Nhân Duyên Tính

《因緣性》 yīn yuán xìng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho tính chất Nhân Duyên, là Nhân Duyên trong 4 duyên. Tiểu Thừa cho rằng trong 6 nhân, trừ Năng Tác Nhân ra, còn 5 nhân kia đều là Nhân Duyên Tính. Tông Duy Thức thì cho rằng Nhân Quả của Chủng TửHiện Hành cùng với Chủng Tử của tự loại nối tiếp nhau là Nhân Duyên Tính. Nay nêu ra để thuyết minh như sau: Tiểu Thừa cho rằng sự Sinh Khởi ra nhãn thức lấy Tác Dụng phát thức thủ cảnh của Nhãn Căn làm nhân, lấy Sắc Cảnh(đối tượng) bên ngoài làm duyên, cho nên Nhãn CănSắc CảnhNhân Duyên Tính Hữu Vi Sinh Khởi ra nhãn thức. Còn tông Duy Thức thì cho rằng Thiện PhápQuá Khứ làm nhân cho Thiện Pháp ở hiện tại, Thiện Pháp ở hiện tại làm nhân cho Thiện Pháp ở vị lai; pháp ác và pháp vô kí cũng như thế. Cứ theo đó thì Chủng Tử Thân Nhân Duyên của các pháp là Nhân Duyên Tính, còn pháp Hiện Hành Huân Tập sinh ra Chủng Tử này là Nhân Duyên Tính của Chủng Tử. Rồi Chủng Tử của niệm trước lại sinh ra Chủng Tử tự loại của niệm sau là Nhân Duyên Tính của Chủng Tử khởi sau. Tức trong 6 nhân, chỉ có Đồng Loại Nhân là chung cho cả Nhân Duyên Tính và Tăng Thượng Duyên tính, còn 5 nhân kia đều là Tăng Thượng Duyên tính.[X. luận Đại tì Bà Sa Q. 16.; luận Câu xá Q. 7.; luận Thành Duy Thức Q. 2.]. (xt. Lục Nhân, Nhân Duyên).