Ngũ Thực
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Năm sự thực của đức Phật do ngài Thân Loan, người Nhật bản, căn cứ vào phần Tán Thiện nghĩa trong Quán Kinh Sớ của Đại sư Thiện Đạo mà Phân Biệt. Đó là:
1. Chân thực quyết Liễu Nghĩa: Lời nói của đức Phật không hư dối nên gọi là chân thực; Quyết Định chính lí, rốt ráo rõ ràng, nên gọi là quyết liễu.
2. Thực tri: Chỉ cho Nhất Thiết Chủng Trí. Nghĩa là trí của Phật biết khắp các tướng Sai Biệt của tất cả pháp, nên gọi là thực tri.
3. Thực giải: Chỉ cho 4 vô ngại. Tức là Pháp vô ngại giải, Nghĩa Vô Ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải. Bốn thứ vô ngại này đều hiểu đúng sự thực, cho nên gọi là thực giải.
4. Thực kiến: Chỉ cho mắt của Phật. Mắt của Phật có năng lực thấy suốt Tính Tướng trong Như Lai Tạng là Thường Trụ, cái thấy ấy thấy hết thảy pháp, khế hợp với sự thực nên gọi là thực kiến.
5. Thực chứng: Chỉ cho đại Niết Bàn. Tức là Phật chứng được đại quả Niết Bàn chân thực, tròn đủ muôn đức, cho nên gọi là thực chứng. [X. Ngu Ngốc Sao Q.hạ].
1. Chân thực quyết Liễu Nghĩa: Lời nói của đức Phật không hư dối nên gọi là chân thực; Quyết Định chính lí, rốt ráo rõ ràng, nên gọi là quyết liễu.
2. Thực tri: Chỉ cho Nhất Thiết Chủng Trí. Nghĩa là trí của Phật biết khắp các tướng Sai Biệt của tất cả pháp, nên gọi là thực tri.
3. Thực giải: Chỉ cho 4 vô ngại. Tức là Pháp vô ngại giải, Nghĩa Vô Ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải. Bốn thứ vô ngại này đều hiểu đúng sự thực, cho nên gọi là thực giải.
4. Thực kiến: Chỉ cho mắt của Phật. Mắt của Phật có năng lực thấy suốt Tính Tướng trong Như Lai Tạng là Thường Trụ, cái thấy ấy thấy hết thảy pháp, khế hợp với sự thực nên gọi là thực kiến.
5. Thực chứng: Chỉ cho đại Niết Bàn. Tức là Phật chứng được đại quả Niết Bàn chân thực, tròn đủ muôn đức, cho nên gọi là thực chứng. [X. Ngu Ngốc Sao Q.hạ].