Ngũ Cốc
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Ngũ chủng cốc tử. Chỉ cho 5 loại hạt là đại mạch (Phạm: yava,lúa mì hạt to), tiểu mạch (Phạm: godhùma, lúa mì hạt nhỏ), đạo cốc (Phạm: zàli, lúa nếp), tiểu đậu (Phạm: masùra, đậu nhỏ) và hồ ma (Phạm: atasì, vừng hay mè). Trong Mật giáo, khi tu Pháp Hộ ma (Phạm: Homa) thì dùng Ngũ Cốc làm vật cúng dường; khi kiến lập Mạn Đồ La thì bỏ 5 loại hạt, 5 vật báu, 5 vị thuốc, 5 mùi thơm vào trong bình, đặt ở chính giữa Đàn Tràng và nơi chôn vật báu ở 4 phía. Phép chôn vật báu này tượng trưng cho việc An Lập vật báu 5 trí ở trong tâm Bồ Đề, tức biểu thị nghĩa nảy mầm lành Ngũ Cốc để diệt 5 thứ lỗi lầm. Nhưng tên gọi của Ngũ Cốc tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác nhau. Như kinh Tô Tất Địa quyển hạ, nêu 5 thứ là lúa nếp, đại mạch, tiểu mạch, đậu nhỏ và vừng. Kinh Đà La Ni tập quyển 12, liệt kê 5 thứ là lúa nếp, đậu nhỏ, đại mạch, tiểu mạch và lúa xanh. Còn Quán trí nghi quĩ thì nêu 5 thứ là lúa nếp, đại mạch, tiểu mạch, đậu xanh và hạt cải trắng. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Đà La Ni tập Q. 9.; kinh Kim Cương đính Du Già trung lược xuất Niệm Tụng Q. 4.; Kiến lập Mạn Đồ La cập giản trạch địa pháp; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 4.].