Ngũ Chủng Duy Thức

《五種唯識》 wǔ zhǒng wéi shí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Ngũ Chủng Duy Thức. Năm thứ Duy Thức do ngài Từ ân thuộc Tông Pháp tướng căn cứ vào các nghĩa Duy Thức được trình bày trong các kinh luận mà lập ra.
1. Cảnh Duy Thức: Theo cảnh sở quán để thuyết minh nghĩa Duy Thức, như Thí Dụ Nhất xứ tứ kiến (cùng 1 cảnh mà có 4 cái thấy khác nhau) nói trong kinh A Tì Đạt Ma.
2. Giáo Duy Thức: Căn cứ vào Ngôn Giáo Năng Thuyên để nói rõ về nghĩa Duy Thức, như ý chỉ Duy Thức tâm nói trong các kinh như kinh Giải thâm mật v.v...
3. Lí Duy Thức: Căn cứ vào lí Duy Thức đã được các kinh luận Thành Tựu mà nói về lí Chuyển Biến của Duy Thức.
4. Hành Duy Thức: Nương vào pháp quán Duy Thức được nói trong kinh luận để thuyết minh Bồ Tát y cứ vào Tứ tầm tư, Tứ như thực trí... mà tư duy quán xét lí Duy Thức. 5.Quả Duy Thức: Căn cứ vào cảnh giới vi diệu của quả Phật được thuyết minh trong kinh luận để nói rõ do tư duy quán xét lí Duy Thức mà được quả trí vô lậu. [X. luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tạp tập Q. 5.; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 1., phần cuối; Duy Thức Nghĩa Chương Q. 3., phần đầu; Bát Nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Thành Duy Thức Luận xu yếu Q.thượng, phần đầu].
II. Ngũ Chủng Duy Thức. Năm nghĩa Duy Thức của Tông Pháp tướng.
1. Tự tướng: Tám thức là tự thể của thức.
2. Tương ứng: Sáu loại (vị) Tâm Sở là tương ứng của thức.
3. Sở biến: Kiến Phần, Tướng phần của tâm và Tâm Sở là sở biến của thức.
4. Phần vị: Pháp bất tương ứng là phần vị giả lập của tâm, Tâm Sở và của Sắc Pháp do Thức Biến ra.
5. Thực tính: Pháp Vô Vi là thực thể của tâm, Tâm Sở, Sắc Pháp và bất tương ứng pháp. [X. luận Thành Duy Thức Q. 7.].