Ngũ Chi Tác Pháp

《五支作法》 wǔ zhī zuò fǎ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Paĩca-avayava-vàkya. Cũng gọi Ngũ Phần Tác Pháp. Tiếng dùng của Nhân Minh cũ. Phương thức suy luận được cấu tạo nên bởi 5 chi, tức là: Tông (Phạm:Pratijĩà), Nhân (Phạm: Hetu), Dụ (Phạm: Udàharaịa), Hợp (Phạm: Upanaya) và Kết (Phạm: Nigamana). Phương thức lập luận của các bậc Đại sư thuộc Nhân Minh cũ như các ngài Di Lặc, Vô trước, Thế Thân v.v... đều không nhất định. Luận Du Già sư địa của ngài Di Lặc và luận Hiển dương Thánh Giáo của ngài Vô trước, đều nói rằng khi nghị luận, có thể thành lập 8 pháp, đó là: Lập tông, biện nhân, dẫn dụ, đồng loại, dị loại, Hiện Lượng, tỉ lượng và chính giáo lượng. Trong đó, 5 pháp trước thông thường được gọi là luận thức Ngũ Chi Tác Pháp, cũng tức là luận thức Ngũ Phần được nói trong luận Như thực của ngài Thế Thân. Phương pháp luận chứng 5 chi hoặc 5 phần như sau:
1. Lập tong (mệnh đề): Trên núi kia đang có lửa cháy.
2. Biện nhân (lí do): Vì thấy có khói trên núi.
3. Dẫn dụ (Thí Dụ chứng minh) chia làm 2 loại: Đồng DụDị Dụ. Đồng Dụ: Có khói ắt có lửa, như trong nhà bếp; Dị Dụ: Không có lửa thì chẳng có khói, như trong hồ nước.
4. Hợp (dùng sau mệnh đề khẳng định): Núi đó cũng như thế.
5. Kết (phần kết luận, tức lập lại Tông): Vì thế biết trên núi đó đang có lửa cháy. Ngũ Chi Tác Pháp nói trên, ngoài các vị Luận sư của Phật giáo ra, cũng được các học phái khác ứng dụng. Như ông Kiều Đạt Ma (Phạm: Gotama) của học phái Ni da dã (Phạm: Nyàya) trong 6 pháiTriết học ở Ấn Độ cũng từng lập luận thức hệt như luận thức 5 phần nói trên. Lại nữa, trong Tác Pháp 5 chi, khi thuộc tính của 2 đối tượng giống nhau về 1 mặt nào đó, thì đi đến kết luận là thuộc tính của các mặt khác cũng giống nhau. Nhưng kết luận này có thể đúng mà cũng có thể sai, vì nó thuộc về phương pháp loại suy. Đối với Tác Pháp 5 chi, trong bộ Chính lí kinh chú, ông Phiệt sa diễn na đã có sự phát triển quan trọng, trong chi Dụ (Đồng DụDị Dụ) ông đều thêm 1 mệnh đề Toàn xưng, làm cho chi Dụ gần giống như Tam Đoạn luận pháp (syllogism). Qua sự cải tạo của ông, Tác Pháp 5 chi đã từ phương pháp loại suy tiến đến phương thức diễn dịch suy lí và kết luận có tính logic tất nhiên. Chẳng hạn như Tác Pháp 5 chi trong Chính lí kinh chú sau đây:
1. Tông: Âm thanh là vô thường.
2. Nhân: Vì nó được tạo ra.
3. Đồng Dụ: Phàm những cái được tạo ra đều là vô thường, như cái chậu, cái dĩa v.v... -Dị Dụ: Phàm những cái không phải do tạo ra mà có thì đều là Thường Trụ, như Thần Ngã...
4. Hợp: Âm thanh lời nói cũng như thế, vì là cái được tạo ra (hợp Đồng Dụ); Âm thanh không giống như Thần Ngã, không thuộc về cái không phải do tạo ra mà có (hợp Dị Dụ).
5. Kết: Vì thế biết âm thanh là vô thường. Ngũ Chi Tác Pháp của ông Phiệt sa diễn na chỉ có 3 danh từ (trừ Thí Dụ chứng minh), nếu bỏ Hợp, Kết thì 3 chi Tông, Nhân, Dụ đại khái tương đương với kết luận, Tiểu tiền đề và Đại tiền đề của Tam Đoạn luận pháp. Còn nếu bỏ Tông, Nhân thì 3 chi Dụ, Hợp và Kết đại khái giống với Tam Đoạn luận pháp. Tuy nhiên, đứng về phương diện logic mà nói, thì Toàn xưng phán đoán được sử dụng trong phần Dị Dụ chưa được chặt chẽ. Mãi đến thế kỉ VI, Đại luận sư Nhân Minh là ngài Trần na (Phạm: Dignàga), trong Tập Lượng Luận đề ra Tam Chi Tác Pháp(luận thức 3 phần): Lập tông, Biện nhân, Dẫn dụ với sự cải cách lớn lao thì luận lí Nhân Minh mới được hoàn chỉnh và cũng từ đó luận chứng Nhân Minh được chia thành Cựu Nhân Minh (Ngũ Chi Tác Pháp), và Tân Nhân Minh (Tam Chi Tác Pháp) khác nhau. [X. luận Du Già sư địa Q. 15.; luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 11.; luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma Q. 16.; phẩm Đọa phụ xứ luận Như thực; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng, phần đầu; Du Già Sư Địa Luận Lược Toản Q. 5.; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q. 1. (Văn quĩ); History of Indian Logic, Calcutta, 1921 by S.C. Vidvabhùsana; Indian Logic in the Early School, Oxford, 1930 by H.N. Randle; Ấn Độ Triết Học nghiên cứu 5; Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Tam Chi Tác Pháp, Nhân Minh).