Năng Lập Sở Lập

《能立所立》 néng lì suǒ lì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Năng thành lập sở thành lập. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Từ ngữ gọi chung Năng LậpSở Lập. Năng Lập, tiếng Phạm là Sàdhana; Sở Lập, tiếng Phạm là Sàdhya. Theo luận thức Nhân Minh, nghĩa lí được trình bày rõ trong luận thức, gọi là Sở Lập, ngôn từ giải thích rõ nghĩa lí ấy thành lập luận thức, gọi là Năng Lập. Bàn về Năng Lập, Sở Lập có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Di Lặc và Vô trước chủ Trương Thuyết Hai Sở Lập và Tám Năng Lập, còn ngài Thế Thân thì chủ Trương Thuyết Ba Năng Lập. A. Hai Sở Lập:
1. Tự tính: Có lập là có, không lập là không.
2. Sai Biệt: Hữu thượng lập vô thượng, thường lập vô thường, hữu sắc lập vô sắc, Hữu Kiến lập vô kiến v.v... môn Sai Biệt nhiều vô lượng. B.Tám Năng Lập:
1. Lập tông (mệnh đề): Trọng điểm tranh luận giữa người lập luận và người vấn nạn, đứng về mặt nghĩa lí, người lập luận nêu rõ tông của mình, chẳng hạn khi tranh luận về âm thanh là thường hay vô thường, có thể lập Tông: Âm thanh là vô thường.
2. Biện nhân (lí do): Vì muốn Thành Tựu Tông Nghĩa của việc thành lập Tông nên phải biện minh lí do của nó.
3. Dẫn dụ (Thí Dụ): Để giúp cho Tông Nghĩa được Thành Tựu, người lập luận dẫn dụ các sự kiện mà từ trước đã được mọi người thừa nhận để minh chứng rằng lí do lập luận của mình là đúng đắn.
4. Đồng loại: Khi dẫn dụ, luận giả nêu lên các pháp đồng loại tương tự.
5. Dị loại: Khi dẫn dụ, luận giả nêu ra các pháp dị loại bất đồng.
6. Hiện Lượng: Dùng ngũ quan Nhận Thức sự vật chung quanh, như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi v.v... là biết ngay không cần suy nghĩ, là cái nhận biết bằng trực giác.
7. Tỉ lượng: Hiểu biết bằng suy xét, so sánh, tức là tầng trên của Hiện Lượng. Hiện Lượng chỉ mới là cảm nhận thấy, nghe, chứ chưa Phân Biệt gì cả, còn tỉ lượng là Tác Dụng Phân Biệt, so sánh cái này, cái kia để tìm ra 1 sự thực.
8. Chính giáo lượng: Viện dẫn những lời dạy của bậc Nhất Thiết Trí để chứng minh thêm cho lập luận của mình. Trong 8 Năng Lập nói trên, 5 hạng mục trước gọi là Ngũ Chi Tác Pháp, hoặc Ngũ Phần Tác Pháp (luận thức 5 phần: Tông, Nhân, Dụ, Hợp, Kết), còn 3 hạng mục sau gọi là Tam lượng. Ngoài ra, cũng có thuyết chủ trương Tứ Năng Lập, tức là: Lập tông, Biện nhân, Đồng loại (Đồng Dụ) và Dị loại (Dị Dụ) trong 8 Năng Lập kể trên. Còn Tam Năng Lập là 3 chi: Tông, Nhân, Dụ; đây cũng là pháp thức của các nhà Tân Nhân Minh như ngài Trần na và ngài Thương Yết La Chủ v.v... Lại cũng có thuyết lấy Tông làm Sở Lập, Nhân, Dụ làm Năng Lập: lấy Tông làm Sở Lập, Nhân làm Năng Lập, Dụ là Trợ Năng Lập. [X. Nhân Minh Chính Lí Môn Luận Bản; luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 11.; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng phần đầu; Nhân Minh Luận Sớ Minh Đăng Sao Q. 1. phần cuối].