Nam Nhạc

《南岳》 nán yuè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Hành nhạc, Hành sơn. Núi ở cách huyện Hành sơn, tỉnh Hồ nam 15 cây số về phía tây bắc, là 1 trong Ngũ Nhạc tại Trung Quốc. Núi cao 1200 mét, chu vi 400 cây số, có 72 ngọn, 10 động, 15 hang, 38 suối, 25 khe, 9 ao, 9 chằm, 9 giếng. Dòng sông Tương uốn quanh 3 mặt Nam, Đông và Bắc của núi này. Cứ theo Lộc sơn tự bi kí do ông Lí ung soạn vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, thì năm Thái thủy thứ 4 (268) đời Tây Tấn, ngài Pháp sùng đã đến đây Khai Sơn, sáng lập chùa Lộc sơn. Năm Thái kiến thứ 2 (570) đời Trần, ngài Tuệ tư vào Nam Nhạc giảng kinh Bát Nhã, Trung Luận..., lập Đạo Tràng Bát Nhã, vì thế ngài Tuệ tư còn được gọi là Nam Nhạc đại sư. Năm Tiên thiên thứ 2 (713) đời Đường, ngài Hoài nhượng đến Nam Nhạc, trụ ở đài Quan âm chùa Bát Nhã 30 năm, nêu cao Thiền Phong Nam Nhạc. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, ngài Hi thiên đến núi Hành sơn, kết am trên đá, người đời gọi ngài là Thạch đầu Hòa Thượng. Những bậc Cao Tăng danh sĩ nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo đến núi này thăm viếng đông không thể kể hết. Trên núi có nhiều chùa miếu, như chùa Sơn lộc (sau đổi tên là chùa Vạn thọ) của ngài Pháp sùng, chùa Thắng nghiệp (chùa Chúc Thánh) của ngài Thừa Viễn, Đạo Tràng Bát Nhã (chùa Phúc nghiêm) của ngài Tuệ tư, viện Truyền Pháp (tức đài Ma kính) nơi ngài Mã tổ Đạo nhất được Thiền Sư Hoài nhượng Truyền Pháp, chùa Nam đài (chỗ đất cũ) của ngài Thạch Đầu Hi Thiên v.v... [X. Tục Cao Tăng Truyện Q. 17.; Liễu hà đông tập Q. 6.].