Na Tiên Tỉ Khâu Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Pàli: Milindapaĩhà. Hán dịch: Di Lan Đà Vương vấn kinh. Gọi tắt: Na Tiên Kinh. Kinh, 2 quyển (hoặc 3 quyển), được dịch vào khoảng đời Đông Tấn, nhưng không rõ tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Kinh này ghi lại quá trình luận nạn giữa ngài Na Tiên, vị tỉ khưu Phật giáo người Ấn Độ, và vua nước Đại Hạ (Bactra) là Di lan Đa La tư (Menandros, Phạm, Pàli: Milinda, tức Di lan đà), người Hi lạp, cai trị miền Bắc Ấn Độ thời bấy giờ (hậu bán thế kỉ II trước Tây lịch). Nội dung kinh này chú trọng thuyết minh về giáo nghĩa cơ bản của Phật Giáo Như: Duyên Khởi, Vô Ngã, Nghiệp Báo, Luân Hồi v.v...; chia làm 3 phần: Phần tựa, chính văn và kết luận. Phần tựa, đầu tiên nói về đời trước của tỉ khưu Na Tiên, kế đến nói về cuộc đời của vua Di lan đà, Nhân Duyên từ khi ngài Na Tiên ra đời đến khi Đắc Đạo, việc vua Di lan đà thưa hỏi ngài Na Tiên cho đến việc nghinh thỉnh ngài Na Tiên vào cung để luận nạn... Phần chính văn là trọng tâm của kinh này, trình bày về cuộc vấn đáp giữa vua Di lan đà và ngài Na Tiên về giáo lí Phật giáo và các việc có liên quan. Phần kết luận cho biết cuộc vấn đáp kéo dài đến nửa đêm, vua cúng dường và tiễn đưa ngài Na Tiên, đồng thời bày tỏ ý nguyện muốn Xuất Gia và ngài Na Tiên rất cảm kích. Kinh này mới chỉ đề cập giáo lí Tiểu Thừa, chứ chưa nói đến Đại Thừa, lời văn lưu loát, ngắn gọn và trong sáng, trình bày tất cả 50 điều về giáo nghĩa Phật Giáo Như đạo Nê hoàn, sự tái sinh, việc thiện v.v... Trong lịch sử văn học của Phật giáo, kinh này chiếm 1 địa vị quan trọng. Kinh này có 2 loại bản: Bản 2 quyển và bản 3 quyển. Trong các tạng Kinh, tạng Cao li thu bản 2 quyển, còn các tạng Tống, Nguyên, Minh thì thu bản 3 quyển. Giữa các bản này có rất nhiều chỗ khác nhau về câu, chữ. Đại Tạng Kinh thu nhỏ và Đại chính tạng thì thu chép cả 2 loại bản này. Kinh Di Lan Đà Vương vấn bản Pàli, chưa được đưa vào Tam Tạng Nam truyền, đây là Bản Kinh Pàli quan trọng nằm ngoài Tam Tạng và có nhiều bản chép tay. Cứ theo bản dịch tiếng Anh (The Questions of King Milinda, S.B.E. 35,36; 1890-1894) của ông Rhys Davids, học giả người Anh, thì bản Pàli chia làm 7 thiên: Thế Tục cố sự (Bàhira-Kathà), Pháp tướng chất nghi (Lakkhaịa-paĩha), Đoạn Hoặc chất nghi (Vimaticchedana-paĩha), Mâu thuẫn chất nghi (Meịđaka-paĩha), Suy luận chất nghi (Anumàna-paĩha), Đầu Đà hạnh (Dhutaíga) và Thí Dụ thuyết chất nghi (Opammakathà-paĩha), gồm 22 chương, 236 điều vấn đáp, trong đó, 3 thiên trước tương đương với bản dịch tiếng Hán, có thể được xem là phần chính thức của kinh này, còn từ thiên thứ 4 trở xuống có lẽ đã do người đời sau thêm vào. Về phương diện kết cấu thì bản Pàli và bản Hán dịch giống nhau, nhưng riêng phần Tựa thì có nhiều chỗ bất đồng. Về việc biên tập, theo bà Rhys Davids, thì kinh này (tức 3 thiên trước) được hình thành là do Bà La Môn Ma na ngõa (Pàli: Màịava) ghi chép lại bằng tiếng Phạm vào thời vua Đới áo ni tây âu tư (Dionysios) ở ngôi, người thừa kế vua Di lan đà, về sau, được dịch ra tiếngPàli. Từ bảnPàli, sau này lần lượt được dịch sang các thứ tiếng Tích lan, Anh, Nhật, Pháp, Đức, Ý, v.v... [X. Xuất Tam Tạng kí tập Q. 4., Pháp Kinh lục Q. 3.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 7.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 3.; Geochichte der indischen Listeratur, Bd, II (M.Winternitz); Early History of India (V.A. Smith)].