Mộc Hoạn Tử
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Vô hoạn tử. Tên khoa học: Koelreuteria paniculata. Cây hoạn tử, thân cao hơn 1 trượng, đầu mùa hạ nở hoa nhỏ màu vàng và kết trái; khi trái chín thì nứt làm ba, bên trong có hạt giống như hạt châu, màu đen và cứng chắc. Xưa nay Ấn Độ thường dùng loại hạt này xâu làm chuỗi tràng để xứng niệm Danh Hiệu Phật, nên kinh Mộc Hoạn Tử dạy: Nếu muốn diệt trừ Phiền Não Chướng và Nghiệp Báo chướng thì phải xâu 108 hạt mộc hoạn, thường mang theo bên mình. Tại Trung Quốc, vào đầu đời Đường, hạt mộc hoạn cũng đã được dùng để xâu chuỗi Niệm Phật. Điều Vô hoạn tử trong Bản thảo Cương Mục có nêu ra 7 tên gọi khác nhau của hạt mộc hoạn, đó là: Hoàn, Mộc Hoạn Tử, cấm lâu, phì châu tử, du châu tử, Bồ Đề tử và quỉ kiến sầu. Còn theo lời chú thích trong kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm Bồ Tát quảng đại viên mãn vô ngại Đại Bi tâm Đà La Ni thì A lị sắt ca sài tức là Mộc Hoạn Tử; mà A lị sắt ca sài, có lẽ là dịch âm của chữ Phạm Ariwỉakàkwa, nhưng tên khoa học của Ariwỉaka là: Sapindus detergens, khác với cây Koelreuteria panicula ta nói ở trên. [X. Công Đức thiên tượng pháp trong kinh Đà La Ni tập Q. 10.; truyện Đạo Xước trong Tục Cao Tăng Truyện Q. 2.; Tuệ lâm Âm Nghĩa Q. 37.; điều Vô hoạn tử trong Tăng quảng bản thảo Cương Mục Q. 35.].