Minh Hạnh Túc / Minh Hành Túc
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: vidyā-caraṇa-saṃpanna, Pāli: vijjā-caraṇa-sampanna: một trong 10 hiệu của đức Phật Âm dịch là Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na (鞞侈遮羅那三般那); còn gọi là Minh Thiện Hành (明善行), Minh Hành Thành (明行成), Minh Hành Viên Mãn (明行圓滿), Minh Hành (明行). Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (北本大般涅槃經) quyển 18 cho biết rằng Minh tức là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提, Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật Trí); Hành Túc (行足, chân bước đi) là Giới, Định và Tuệ. Đức Phật nương vào bước chân đi của Tam Vô Lậu Học này để Chứng Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; nên gọi là Minh Hành Túc. Bên cạnh đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 còn giải thích rằng: “Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tần ngôn Minh Hành Cụ Túc [Minh và Hành đầy đủ]; vân hà danh Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, danh vi Tam Minh (鞞侈遮羅那三般那、秦言明行具足、云何名明行具足、宿命、天眼、漏盡、名爲三明, Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tàu gọi là Minh Hành Cụ Túc; thế nào là Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, gọi là Ba Minh)”; và “Hành Danh Thân Khẩu Nghiệp; duy Phật Thân, Khẩu Nghiệp Cụ Túc, dư giai hữu thất; thị danh Minh Hành Cụ Túc (行名身口業、唯佛身、口業具足、餘皆有失、是名明行具足, Hành gọi là nghiệp của thân và miệng; chỉ có nghiệp thân và miệng của Phật mới đầy đủ [không sai lầm], còn lại đều sai lầm, cho nên gọi là Minh Hành Cụ Túc).”