Ma Yết Đà Quốc
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Ma yết đà, Phạm;Pàli: Magadha. Cũng gọi Ma già đà quốc, Ma Kiệt Đà quốc, Ma kiệt đề quốc, Mặc kiệt đà quốc, Mặc kiệt đề quốc, Ma Ha đà quốc. Hán dịch: Vô hại quốc, Bất ác xứ quốc, Trí cam lộ xứ quốc, Thiện thắng quốc. Tên 1 nước xưa ở Trung Ấn Độ, là 1 trong 16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại thế, lấy thành Hoa thị (Patna ngày nay) và Phật Đà già đa làm trung tâm, có quan hệ rất thâm thiết với Phật giáo. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 8 chép, thì nước Ma yết đà chu vi hơn 5 nghìn dặm, đất đai phì nhiêu, phong tục thuần phác, sùng kính Phật Pháp, có hơn 50 ngôi chùa với hơn 1 vạn chư tăng, phần nhiều tu học giáo pháp Đại Thừa; còn có vài mươi đền thờ trời, Ngoại Đạo cũng nhiều. Ở khu vực phụ cận thành Hoa thị còn có những di tích nổi tiếng của Phật Giáo Như: tháp A Dục Vương, phiến đá có lốt chân của Phật, nền cũ chùa Kê viên, nơi đức Phật tu Khổ Hạnh, nơi 3 anh em ngài Ca Diếp qui Phật v.v... Vua Tần Bà Sa la xây dựng thành Vương xá mới (nay là Rajgir) ở phía bắc cố đô và qui y đức Phật. Từ đó về sau, thành Vương xá là nơi đức Phật thườngthuyết pháp. Đến vua A dục đời thứ 3 của Vương triều Khổng tước–thống nhất toàn cõi Ấn Độ, thế nước hưng thịnh, vua phái các sư đi khắp nơi cả trong nước và hải ngoại, để truyền bá Phật giáo, xây cấtchùa tháp, tạo dựng trụ đá, làm cho Phật giáo cực thịnh 1 thời. Sang triều đại Cấpđa ở thế kỉ IV, Phật giáo cũng rất hưng thịnh. Vua Đế nhật sáng lập chùa Na lan đà vào đầu thế kỉ thứ V, là trung tâm của Phật giáo Ấn Độ đương thời. Đến thế kỉ VII, Vương triều Cấp đa suy vong thì Phật giáo cũng bắt đầu suy vi. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.thượng, phần 1; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q. 1.,21; Tuệ uyển Âm Nghĩa Q. 1.].