Ma Ni

《摩尼》 mó ní

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s, Pāli: maṇi: còn gọi là Mạt Ni () ý dịch là châu (), Bảo Châu (), Ma Ni Châu (), v.v. Ma Ni là tên gọi chung của loại ngọc cũng như đá quý. Trong Kinh Điển Phật Giáo cũng thỉnh thoảng có đề cập đến từ Ma Ni này để ám chỉ công lực bất khả tư nghì. Trên đỉnh đầu của Long Vương có tàng chứa loại Bảo Châu này, và Ma Ni cũng được liệt vào một trong 7 loại báu của Chuyển Luân Thánh Vương. Đặc biệt Như Ý Bảo Châu (Sanskrit: cintā- maṇi, ), âm dịch là Chân Đà Ma Ni (), Chấn Đa Ma Ni (); ý dịch là Như Ý Bảo (), Như Ý Châu (), Như Ý Ma Ni (), Ma Ni Bảo Châu (), Mạt Ni Bảo (), Vô Giá Bảo Châu (); là một loại ngọc có rất nhiều công lực như làm lành ác bệnh, tiêu trừ nọc độc của rắn, làm cho nước đục thành trong, v.v. Bên cạnh đó, Bồ Tát Quan Âm Ngàn Tay thường cầm trên tay phải là Nhật Tinh Ma Ni (, hay còn gọi là Nhật Ma Ni []). Tương truyền rằng nếu người mù cầu nguyện ngọc Ma Ni này thì sẽ được sáng mắt. Tay trái của Bồ TátNguyệt Tinh Ma Ni (, hay Nguyệt Quang Ma Ni [], Minh Nguyệt Ma Ni [], Minh Nguyệt Chân Châu [], Nguyệt Ái Châu []); có thể tiêu trừ sự bức não của con người, làm cho mát mẻ. Trong A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 102 có nêu ra 5 loại Ma Ni như Quang Minh Mạt Ni (), Thanh Thủy Mạt Ni (), Phương Đẳng Mạt Ni (), Vô Giá Mạt Ni (), Như Ý Châu (). Lục Thập Hoa Nghiêm (, Taishō Vol. 9, No. 278) quyển 47 có liệt kê một số ngọc Ma Ni khác như Thanh Lưu Ly Ma Ni (), Dạ Quang Ma Ni (), Nhật Tạng Ma Ni (), Nguyệt Tràng Ma Ni (), Diệu Tạng Ma Ni (), Đại Đăng Ma Ni (), v.v. Tại Bảo Tháp của Sư Bà Diên Trường, Chùa Trúc Lâm Huế, có câu đối: “Thạch tàng Xá Lợi nan Danh Tướng, châu hiện Ma Ni trạm Sắc Không (, đá tàng Xá Lợi đâu Danh Tướng, ngọc hiện Ma Ni sạch Sắc Không).”