Ma Da Phu Nhân
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s, Pāli: Māyā: mẹ của đức Thế Tôn con gái của Thiện Giác Vương (善覺王) ở Thành Câu Lợi (拘利城), vợ vua Tịnh Phạn (Sanskrit: Śuddhodana, Pāli: Suddhodana 淨飯王) Thành Ca Tỳ La Vệ (Sanskrit: Kapilavastu, Pāli: Kapilavatthu 迦毘羅衛), sau khi hạ sanh đức Thế Tôn được 7 ngày, bà qua đời. Sau khi chết, bà được sanh lên cõi Trời Đao Lợi (Sanskrit: Trāyastriṃśa, Pāli: Tāvatiṃsa 忉利). Sau ngày thành đạo, đức Phật đã lên cõi trời này để Thuyết Pháp cho mẹ mình. Như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經), phẩm Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên (觀眾生業緣) thứ 3 có đề cập đến Phu Nhân Ma Da như: “Nhĩ thời Phật Mẫu Ma Da Phu Nhân, Cung Kính hiệp chưởng vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn: 'Thánh giả, Diêm Phù Chúng Sanh, tạo nghiệp Sai Biệt, sở thọ Báo Ứng, kỳ sự vân hà ?' (爾時佛母摩耶夫人、恭敬合掌問地藏菩薩言:聖者、閻浮眾生、造業差別、所受報應、其事云何, lúc bấy giờ, mẹ của đức Phật là Ma Da Phu Nhân Cung Kính chấp tay hỏi Bồ Tát Địa Tạng rằng: 'Thưa bậc Thánh, Chúng Sanh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp khác nhau, chịu sự Báo Ứng, việc đó như thế nào ?').” Thiên Mục Văn Lễ (天目文禮, 1167-1250), vị tăng của Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, có bài tụng như sau: “Vị tằng chàng nhập Ma Da phục, lưỡng thủ tri tha thậm xứ an, tả hiếp xuất lai Ma Cảnh hiện, chỉ kham chù trướng bất kham khan (未曾撞入摩耶服、兩手知他甚處安、左脅出來魔境現、只堪惆悵不堪看, chưa từng đột nhập Ma Da bụng, có biết người ta chốn nào yên, vai trái ra rồi Ma Cảnh hiện, chỉ e rầu rĩ biết sao nhìn).”