Lý Sự Vô Ngại Quán
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Pháp quán Lí sự Bình Đẳng vô ngại. Lí là tính của Nhất Chân Pháp Giới, Sự là tướng của hết thảy Thế Gian. Tức là quán lí tính Bình Đẳng và Sự Tướng Sai Biệt hiển nhiên tồn tại, cả 2 tuy có thể hòa nhập vào nhau, Thành Tựu cho nhau, tổn hại lẫn nhau, tức là nhau, chẳng phải nhau, nhưng viên dung vô ngại. Là Pháp Giới Lí sự vô ngại trong 4 Pháp Giới. Cứ theo Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn, thì Lí sự vô ngại quán có 10 môn:
1. Lí biến ư sự môn: Lí không có giới hạn, sự thì có Sai Biệt, nhưng trong mỗi sự đều hàm có lí.
2. Sự biến ư lí môn: Trong lí đã có sự thì trong sự cũng có lí, sự tuy có Sai Biệt, nhưng lí thì vô hạn, vì thế 1 mảy bụi cũng có thể trùm khắp Pháp Giới.
3. Y lí thành sự môn: Sự do duyên Sinh Khởi, không có thể riêng, phải nương vào lí mới được thành lập; đây là sự do lí mà thành.
4. Sự năng hiển lí môn: Sự là hư giả, lí là chân thực, cho nên lí trong sự hiển hiện rõ ràng, đây là lí do sự mà hiển lộ.
5. Dĩ lí đoạt sự môn: Sự do lí mà thành, khiến cho Sự Tướng đều mất, chỉ còn 1 Chân Lí Bình Đẳng hiển hiện.
6. Sự năng ẩn lí môn: Chân Lí Tùy Duyên mà thành các Sự Tướng, do đó, sự hiển hiện mà lí thì ẩn kín, như Pháp Thân của chư Phật ẩn trong thân Chúng Sinh.
7. Chân Lí tức sự môn: Chân Lí không ở ngoài sự, toàn thể lí đều là sự.
8. Sự pháp tức lí môn: Sự do Duyên Khởi, không có tự tính, cho nên toàn thể sự tức là Chân Lí.
9. Chân Lí phi sự môn: Lí là chỗ nương của sự, nhưng chẳng phải là sự, vì lí dứt tuyệt các tướng, nên không phải là sự.
10. Sự pháp phi lí môn: Sự là năng y chứ không phải sở y, sự có Sai Biệt, tính và lí khác nhau, cho nên sự chẳng phải là lí. Trong 10 môn trên, hai Môn Đầu sự và lí nhập vào nhau, môn 3, 4 là sự và lí Thành Tựu cho nhau, môn 5, 6 sự và lí tổn hại lẫn nhau, môn 7, 8 sự và lí tức là nhau, môn 9, 10 sự và lí chẳng phải là nhau. Nghĩa của 10 môn này tuy chỉ thú không giống nhau, nhưng Thuận Nghịch Tự Tại vô ngại, là pháp Duyên Khởi đồng nhất, Sinh Khởi đồng thời. [X. chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 2.; Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q. 10.; Hoa Nghiêm Pháp Giới Huyền Kính]. (xt. Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).
1. Lí biến ư sự môn: Lí không có giới hạn, sự thì có Sai Biệt, nhưng trong mỗi sự đều hàm có lí.
2. Sự biến ư lí môn: Trong lí đã có sự thì trong sự cũng có lí, sự tuy có Sai Biệt, nhưng lí thì vô hạn, vì thế 1 mảy bụi cũng có thể trùm khắp Pháp Giới.
3. Y lí thành sự môn: Sự do duyên Sinh Khởi, không có thể riêng, phải nương vào lí mới được thành lập; đây là sự do lí mà thành.
4. Sự năng hiển lí môn: Sự là hư giả, lí là chân thực, cho nên lí trong sự hiển hiện rõ ràng, đây là lí do sự mà hiển lộ.
5. Dĩ lí đoạt sự môn: Sự do lí mà thành, khiến cho Sự Tướng đều mất, chỉ còn 1 Chân Lí Bình Đẳng hiển hiện.
6. Sự năng ẩn lí môn: Chân Lí Tùy Duyên mà thành các Sự Tướng, do đó, sự hiển hiện mà lí thì ẩn kín, như Pháp Thân của chư Phật ẩn trong thân Chúng Sinh.
7. Chân Lí tức sự môn: Chân Lí không ở ngoài sự, toàn thể lí đều là sự.
8. Sự pháp tức lí môn: Sự do Duyên Khởi, không có tự tính, cho nên toàn thể sự tức là Chân Lí.
9. Chân Lí phi sự môn: Lí là chỗ nương của sự, nhưng chẳng phải là sự, vì lí dứt tuyệt các tướng, nên không phải là sự.
10. Sự pháp phi lí môn: Sự là năng y chứ không phải sở y, sự có Sai Biệt, tính và lí khác nhau, cho nên sự chẳng phải là lí. Trong 10 môn trên, hai Môn Đầu sự và lí nhập vào nhau, môn 3, 4 là sự và lí Thành Tựu cho nhau, môn 5, 6 sự và lí tổn hại lẫn nhau, môn 7, 8 sự và lí tức là nhau, môn 9, 10 sự và lí chẳng phải là nhau. Nghĩa của 10 môn này tuy chỉ thú không giống nhau, nhưng Thuận Nghịch Tự Tại vô ngại, là pháp Duyên Khởi đồng nhất, Sinh Khởi đồng thời. [X. chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 2.; Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q. 10.; Hoa Nghiêm Pháp Giới Huyền Kính]. (xt. Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).