Lưu Cầu Phật Giáo
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phật giáo xứ Lưu Cầu. Lưu Cầu xưa kia thuộc Trung Quốc, cho mãi đến đời nhà Thanh vẫn còn triều cống, do đó đã trở thành vấn đề giữa Trung Quốc và Nhật bản. Vào đầu năm Quang tự (khoảng 1875- 1908) đời Thanh, Nhật bản thôn tính đảo Lưu Cầu, đổi tên là Xung thằng và đặt làm 1 huyện của Nhật bản, nhưng Trung Quốc thì vẫn gọi là Lưu Cầu. Theo truyền thuyết, Xung thằng là do Thiên thần A ma mĩ cửu sáng lập, vì địa thế ngoằn ngoèo uốn khúc như con rồng nổi trong nước nên gọi là Lưu Cầu ( ), sau đổi thành Lưu Cầu (.....). Phật giáo ở nơi này bắt đầu từ khi vua Anh tổ xây dựng chùa Cực Lạc (khoảng năm 1265-1274) ở Phố thiêm. Không bao lâu, có sư Lại trọng Pháp Ấn, người Nhật, sáng lập chùa Hộ quốc trên núi Ba thượng ở Na bá. Năm Tuyên đức thứ 5 (1430) đời vua Tuyên tông, hoạn quan Sài sơn xây Đại An Thiền tự. NămTuyên đức thứ 8 (1433) sáng lập Thiên Phật linh các. Vua Thượng thái cửu (1454-1460) ban sắc lần lượt kiến tạo 3 chùa: Quảng nghiêm, Phổ Môn và Thiên Long, thỉnh vị tăng người Nhật là ngài Giới ẩn Thừa hổ làm Trụ trì Khai Sơn. Nhà vua còn xây dựng chùa viện ở các nơi và đúc chuông lớn để cúng dường các chùa nổi tiếng như: Báo ân, Đại Thánh v.v... cho nên trong sử sách, ông được gọi là Phụng Phật danh quân (vị vua nổi tiếng thờ Phật). Năm Thiên thuận thứ 2 (1458) đời vua Anh tông, vua Thái thượng cửu lại phái vị tăng người Nhật là Đạo An đến Triều tiên thỉnh Tạng kinh. Năm Thiên thuận thứ 6 (1462), vua Thượng đức cũng phái ngài Phổ tu cổ, thỉnh từ Triều tiên về 1 bộ Đại Tạng Kinh và các Kinh Điển khác như: Kim Cương, Pháp hoa, Thiên Thai Tứ Giáo Nghi, Tâm kinh, Đại Bi tâm kinh, Lăng nghiêm, Khởi tín luận, Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập v.v... Về sau, Lưu Cầu thường qua lại với giới Phật giáo Triều tiên. Năm Vạn lịch 31 (1603) đời Minh, vị tăng thuộc tông Tịnh Độ Nhật bản là ngài Đại trung truyền bá kinh sách Phật giáo và xiển dương Pháp Môn Niệm Phật tại Lưu Cầu, đồng thời, ngài cũng soạn Lưu Cầu Thần Đạo kí 5 quyển, nói rõ về tình hình chung và sự thay đổi của các chùa viện ở Lưu Cầu. Năm Khang hi thứ 10 (1671) đời vua Thánh tổ nhà Thanh, vị Trụ trì chùa Hộ quốc là ngài Lại xương xin phép triều đình đổi 3 ngôi chùa Thần ứng, Vạn thọ và Thánh hiện của Thiền Tông thành chùa Chân Ngôn Tông. Vào năm Đồng trị thứ 7 (1868), thời Minh trị Duy tân biến cách, chư tăng thuộc các phái Thiền Tông đều cầu đảo Thần Phật xin chấm dứt sự tra khảo và giết chóc tại các nhà tù. Trong thời Minh trị Duy tân, các chùa viện ở Lưu Cầu được chia làm Công tự và Hiếp tự. Sau thời Duy tân, các chùa viện không còn được sự bảo hộ của nhà vua nên bị suy đồi nhanh chóng. Và sau Thế Giới đại chiến lần thứ 2 thì Phật giáo Lưu Cầu đã mất hẳn cái cảnh huống hưng thịnh của thế kỉ thứ
17. Phật giáo Lưu Cầu chia làm 2 pháp hệ lớn là Nhật bản Chân Ngôn Tông và Lâm Tế Tông. Lễ hội Niệm Phật dũng được dân gian cử hành vào tháng 8 hằng năm, có thể nói đó là di phong tông Tịnh Độ do ngài Đại trung truyền lại. Sau thời Minh trị, phần lớn các Thiền Viện thuộc về Phái Diệu Tâm Tự tông Lâm tế, còn các chùa tông Chân Ngôn thì thuộc về phái Đông tự của tông Chân Ngôn, chỉ ở Na bá có chùa Chân giáo của phái Đại cốc thuộc tông Chân Ngôn. [X. Đông di liệt truyện trong Tùy thư Q. 81.; Ngoại quốc liệt truyện trong Minh Sử Q. 211.; Trung sơn thế giám cổ; Kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 100; Lưu Cầu chi Tông Giáo (Thu sơn Khiêm tạng).
17. Phật giáo Lưu Cầu chia làm 2 pháp hệ lớn là Nhật bản Chân Ngôn Tông và Lâm Tế Tông. Lễ hội Niệm Phật dũng được dân gian cử hành vào tháng 8 hằng năm, có thể nói đó là di phong tông Tịnh Độ do ngài Đại trung truyền lại. Sau thời Minh trị, phần lớn các Thiền Viện thuộc về Phái Diệu Tâm Tự tông Lâm tế, còn các chùa tông Chân Ngôn thì thuộc về phái Đông tự của tông Chân Ngôn, chỉ ở Na bá có chùa Chân giáo của phái Đại cốc thuộc tông Chân Ngôn. [X. Đông di liệt truyện trong Tùy thư Q. 81.; Ngoại quốc liệt truyện trong Minh Sử Q. 211.; Trung sơn thế giám cổ; Kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 100; Lưu Cầu chi Tông Giáo (Thu sơn Khiêm tạng).