Lưu Cầu

《劉虬》 liú qiú

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(437- 495) Cư Sĩ Phật Giáo Trung Quốc, sống vào đời Nam Tề, người Niết dương, Nam dương, (phía nam huyện Trấn bình, Tỉnh Hà nam hiện nay), tự là Linh dự, Đức minh. Ông là người cao thượng, liêm khiết và hiếu học, thông minh hơn người, trau dồi kinh sử, nhất là kinh Phật. Trong năm Thái thủy (465-471) đời Lưu Tống, ông được mời làm Kí thất cho Tấn vương, nhưng không bao lâu xin từ chức. Đầu năm Kiến vũ (494- 497), ông lại được mời ra làm quan nhưng không đến nhậm chức, chỉ ở nhà học Phật, ăn chay trường, tụng kinh, Lễ Bái, thông suốt tạng kinh, hiểu rõ pháp Thiền, thường đóng cửa phòng, ngồi một mình yên lặng. Vì mến cảnh vắng vẻ cách xa trần tục nên ông dời đến ở châu Tây sa tại Giang lăng. Ông thường giảng kinh Niết Bàn, kinh Bát Nhã (Đại phẩm, Tiểu phẩm), 4 chúng Cung Kính lắng nghe, thảy đều khen ngợi. Ông có tác phẩm Chú Pháp hoa kinh nhưng đã bị thất lạc, chỉ còn thấy những đoạn văn được trích dẫn trong các bộ Pháp hoa kinh văn cú của ngài Trí KhảiPháp Hoa Huyền Luận, Pháp Hoa Nghĩa Sớ của ngài Cát Tạng mà thôi. Ngoài ra, trong Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 1 và Tam Luận du ý nghĩa có ghi thuyết Ngũ thời thất giai là phán giáo do ông Lưu Cầu lập ra. Mùa đông năm Kiến vũ thứ 2 (495) đời Minh Đế nhà Tề, ông qua đời thọ 59 tuổi. [X. truyện Pháp an trong Tục Cao Tăng Truyện Q. 9., Nam sử liệt truyện thứ 40].