Long Vương

《龍王》 lóng wáng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: nāgarājaḥ: âm dịch là Na Già La Nhã (), là vị có uy Đức Nhất trong loài rồng. Tương truyền rằng khi đức Phật đản sanh, có 2 vị Long Vương tên Nan Đà (Sanskrit: Nanda, ) và Bạt Nan Đà (Sanskrit: Upananda, ) xuất hiện rưới nước thanh tịnh tắm cho ngài. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (Sanskrit: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, ) có đề cập 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật Thuyết pháp như Nan Đà (Sanskrit: Nanda, ), Bạt Nan Đà (Sanskrit: Upananda, ), Ta Già La (Sanskrit: Sāgara, ), Hòa Tu Cát (Sanskrit: Vāsuki, ), Đức Xoa Ca (Sanskrit: Takṣaka, ), A Na Bà Đạt Đa (Sanskrit: Anavatapta, ), Ma Na Tư (Sanskrit: Manasvin, ), Ưu Bát La (Sanskrit: Utpalaka, ). Quyển 1 của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh () thì nêu tên 7 vị Long Vương. Các vị này thường có thể làm cho mây nỗi và ban mưa, khiến cho Chúng Sanh tiêu tan sự nóng bức. Ngoài ra, theo Tăng Hộ Kinh () cho biết rằng Hải Long Vương () đã từng biến thành thân người nữ, Xuất Gia tu hành, nhưng trong khi ngủ không thể ẩn thân được nên hiện nguyên hình rồng; cho nên đức Phật dạy rằng con rồng lúc mới sanh ra, khi chết, giao cấu, sân hận, ngủ nghĩ thì vẫn giữ nguyên hình của nó, không thể biến hóa thành loài khác được. Đối với Long Vương có 3 điều lo âu: (1) nỗi khổ bị thiêu đốt bởi gió nóng và cát nóng; (2) nỗi lo sợ khi luồng gió ác thổi đến chỗ ở làm cuốn bay cả của báu và xiêm y; (3) nỗi lo sợ bị loài Kim Xí Điểu (, tức Ca Lâu La [s: garuḍa, ]) ăn thịt. Tuy nhiên, loại Long Vương sống trong hồ A Nậu Đạt () thì không có những nỗi khổ này. Ngoài ra, Long Vương còn là tên gọi của một vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc, một trong Tứ Linh, Nguyên Lai phát xuất từ việc Sùng Bái Long Thần () kết hợp với Tín Ngưỡng Hải Thần (). Đại Long Vương có 4 vị, được gọi là Tứ Hải Long Vương (), gồm: Nam Hải Quảng Lợi Vương (, hay Nam Hải Long Vương Ngao Khâm []), Đông Hải Quảng Đức Vương (, hay Đông Hải Long Vương Ngao Quảng []), Bắc Hải Quảng Trạch Vương (, hay Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận []) và Tây Hải Quảng Thuận Vương (西, hay Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận [西]). Trong đó, Đông Hải Long Vương là tối tôn. Trong Thái Thượng Động Uyên Thần Chú Kinh () của Đạo Giáo có Phẩm Long Vương (), tùy theo Phương Vị mà gọi là Ngũ Đế Long Vương (), hay theo sông biển mà có tên là Tứ Hải Long Vương, theo thiên địa vạn vật mà nêu ra 54 tên Long Vương. Dưới thời vua Huyền Tông (, tại vị 712-756) nhà Đường, nhà vua có hạ chiếu thờ Long Trì (), lập đàn cúng tế, lấy nghi thức tế mưa để cúng tế Long Vương. Đến thời vua Thái Tổ (, tại vị 960-976) nhà Tống lại dùng quy chế nghi cúng tế Ngũ Long của nhà Đường. Vào năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán () đời vua Huy Tông (, tại vị 1100-1125) nhà Tống, có chiếu chỉ phong tước vương cho Ngũ Long. Thanh Long Thần () là Quảng Nhân Vương (), Xích Long Thần () là Gia Trạch Vương (), Hoàng Long Thần () là Phu Ứng Vương (), Bạch Long Thần () là Nghĩa Tế Vương (), Hắc Long Thần () là Linh Trạch Vương (). Đến năm thứ 2 (1863) niên hiệu Đồng Trị (, 1862-1874) nhà Thanh, nhà vua lại phong cho Vận Hà Long Thần () là Diên Hưu Hiển Ứng Phân Thủy Long Vương Chi Thần () và hạ lệnh cho Tổng Đốc quản lý về sông nước lo việc cúng tế. Về chức năng, Long Thần chuyên trách về việc tạo mây ban mưa, làm cho con người được mát mẻ, tiêu trừ nóng bức, Phiền Não. Theo các sử liệu cho biết, ngày cúng tế Long Thần khác nhau tùy theo truyền thuyết dân gian các nơi. Xưa kia, phần lớn những ngôi đền thờ Long Vương đồng dạng với đền thờ của Thành Hoàng (), Thổ Địa (). Mỗi khi gặp gió mưa không thuận hòa, hạn hán kéo dài, hay mưa lâu mà không dứt, người dân thường đến miếu thờ Long Vương dâng hương, cầu nguyện để được phong điều vũ thuận. Trong Bác Dị Ký (), phần Hứa Hán Dương () của () nhà Đường có đoạn: “Tác dạ Hải Long Vương chư nữ, cập di muội lục thất nhân quá quy Động Đình (, đêm hôm qua các nữ nhân của Hải Long Vương cùng với chị em sáu, bảy người đi ngang về Động Đình).”