Long Thụ Sơn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Nàgàrjunikondà. Chỉ cho cái gò đất cao có hình dáng giống như cái đài nằm bên hữu ngạn khoảng giữa con sông Kistna ở miền Nam Ấn Độ. Đến khoảng thế kỉ thứ XIV, gò đất này mới được gọi là Long Thụ Sơn(núi Long Thụ). Năm 1926, ở chân núi phía đông nam, người ta đã phát hiện rất nhiều tháp và tăng viện trong tình trạng hoang phế, có thể sánh ngang với các di Tích Phật giáo ở khu vực A La Ma Đề Bà (Phạm: Amaràvati). Do bài minh khắc trên tấm bia đá mà người ta có thể biết nơi đây chính là nền cũ của thủ đô Tì gia nhã bố lí (Phạm:Vijayapurì), thuộc triều đại Y khắc tu ngõa khắc (Phạm: Ikwvàku) hưng thịnh vào thế kỉ thứ
III. Các tăng viện hoang phế còn lại ở đây là các tự viện của các Bộ Phái Phật Giáo Tiểu Thừa như: Đa Văn, Hóa địa, Tây sơn, v.v... Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc chùa tháp đều được thực hiện vào thế kỉ thứ
III. Học giả N. Dutt cho rằng di tích này có liên quan với phái Long Thụ Đát đặc la (Phạm: Tantra) hoặc có liên quan với chính Ngài vì thế gọi là Long Thụ Sơn.
III. Các tăng viện hoang phế còn lại ở đây là các tự viện của các Bộ Phái Phật Giáo Tiểu Thừa như: Đa Văn, Hóa địa, Tây sơn, v.v... Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc chùa tháp đều được thực hiện vào thế kỉ thứ
III. Học giả N. Dutt cho rằng di tích này có liên quan với phái Long Thụ Đát đặc la (Phạm: Tantra) hoặc có liên quan với chính Ngài vì thế gọi là Long Thụ Sơn.