Lâu Chí Phật

《樓至佛》 lóu zhì fú

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Lâu chí, Phạm: Rudita, Rucika. Cũng gọi Lô già Phật, Lô Chí Phật, Lỗ chi Phật, Lâu do Phật. Hán dịch: Ái Nhạo Phật, Đề khốc Phật. Đức Phật ra đời sau cùng trong số 1.000 đức Phật thuộc kiếp Hiền. Cứ theo Tuệ lâm Âm Nghĩa quyển 18, đức Phật này tức là thần Chấp Kim Cương (Lực Sĩ Kim Cương), nhưng thuyết này là do người đời sau truyền lầm. Thung Dung Lục tắc 77 (Đại 48, 276 hạ), ghi: Tiếng phạm là Lâu chí, Trung Quốc dịch là Đề khấp. Một nghìn vị Phật ở kiếp Hiền là một nghìn vị Vương tử. Trong đó, vị Vương tử cuối cùng được Thụ Kí Thành Phật là ngài Lâu chí, nên ngài khóc mà than rằng: Tại sao ta Bạc Phúc được Thụ Kí sau cùng? Nhưng rồi ngài bỗng cười mà nói: Ta sẽ được hưởng hết những Phương Tiện Trang Nghiêm của 999 vị Phật!. [X. Pháp Uyển Châu Lâm Q. 10.; Tuệ lâm Âm Nghĩa Q. 11.]. (xt. Hiền Kiếp Thiên Phật).