Lập Xuyên Lưu

《立川流》 lì chuān liú

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Lập hà lưu. Dòng Lập xuyên, 1 tà phái phát sinh từ tông Chân Ngôn và tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản, do ông Nhân khoan sáng lập. Nhân khoan là Đệ Tử (hoặc là em ruột) của ông Thắng giác ở viện Đề Hồ Tam Bảo thuộc tông Chân Ngôn. Vào niên hiệu Vĩnh cửu năm đầu (1113), Nhân khoan bị lưu đày đến Y đậu, đổi tên là Liên niệm. Bấy giờ có vị thầy âm dương ở thôn Lập xuyên, quận Đa ma, phía tây nước Vũ tạng, theo Liên niệm học Mật pháp, rồi đem pháp âm dương vào Mật pháp. Đây là sự mở đầu cho việc tông Chân Ngôn và đạo âm dương hỗn hợp thành 1 phái. Đến đời sau, lấy tên đất mà đặt tên phái, gọi là Lập Xuyên Lưu. Vào đầu thời kì Nam Bắc Triều, Nhật bản, ông Văn quán Hoằng chân (1278-1357) đưa phái Lập xuyên đến chỗ hoàn bị. Giáo phái này chủ trương lấy việc giao hội nam nữ làm Phật Sự, cho rằng Dâm Dục tức là đạo và lấy những Bản Kinh nói về việc này làm chứng cứ, mà phối thuộc nam nữ với 2 bộ Kim Cương Giới, Thai Tạng Giới, tức dùng đường âm dương nam nữ làm bí thuật Tức Thân Thành Phật! Tư tưởng này cũng ảnh hưởng phần nào đến tông Tịnh ĐộChân Tông Nhật bản. [X. Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q. 9.].