Lâm Nga Phong

《林鵞峰》 lín é fēng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Hayashi Gahō, 1618-1680: Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Hựu Tam Lang (), Xuân Thắng (), Thứ (); tự Tử Hòa (), Chi Đạo (); hiệu là Xuân Trai (), Nga Phong (), Hướng Dương Hiên (), v.v.; thân phụ là Lâm La Sơn (). Ông theo hầu hạ Na Ba Hoạt Sở (), và sau đó cùng với phụ thân phục vụ cho chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ. Vào năm 1657 (Minh Lịch [] 3), ông kế thừa dòng họ Lâm và tham gia chính trị của Mạc Phủ. Đến năm 1663 (Khoan Văn [] 3), ông giảng nghĩa Ngũ Kinh cho Đức Xuyên Gia Cương (, Tokugawa Ietsuna), Tướng Quân đời thứ 4, được tặng cho Danh Hiệu Hoằng Văn Viện Học Sĩ () và giao cho việc cơ mật ngoại giao của chính quyền Mạc Phủ cũng như quan hệ tố tụng. Là người rất tinh thông Nhật Bản Sử, ông cùng với phụ thân chủ đạo sự nghiệp biên tập các tác phẩm như Nhật Bản Vương Đại Nhất Lãm (), Bản Triều Thông Giám (), Khoan Vĩnh Chư Gia Hệ Đồ Truyện (), v.v., và đã tạo ảnh hưởng to lớn cho Lịch Sử Học thời Cận Đại. Tổ chức trường học Tư Thục do Nga Phong chỉnh đốn thành hệ thống đã tạo thành cơ sở cho trung tâm học vấn Xương Bình Phản ().