Lai Ba Thiệm

《徠巴贍》 lái bā shàn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tạng: Ral-pa-can. Tức là Khất lật Lai Ba Thiệm. Cũng gọi Nhiệt ba trung. Vua nước Tây tạng, vốn tên là Khả lê khả túc (Tạng: Khri-gtsug lde-brtsan) ở ngôi từ năm 815 đến 836 (hoặc 838). Lúc vua mới lên ngôi, mối quan hệ giữa Tây tạng và nhà Đường đang ở thời kì căng thẳng và vua từng đưa quân cướp phá vùng biên giới Trung Quốc. Về sau, 2 nước Đường Tạng giao hảo lập bia liên minh (Đường Phồn hội minh), trong văn bia có ghi chép việc vua 2 nước thệ ước trước Tam Bảo. Nhà vua tin Phật rất kiền thành. Tương truyền, vua từng cắt tóc làm tọa cụ để dâng cúng chư tăng, tên gọi Lai Ba Thiệm hàm ý là tóc dài. Trong thời gian ở ngôi, vua nhận thấy những Kinh Điển Phật giáo đã được dịch ở Tây tạng từ trước đến giờ chưa được hoàn mĩ, nên sai sứ đến Ấn Độ lễ thỉnh các bậc thạc học Phật giáo và tập họp các vị Cao Tăng Tây tạng để thực hiện việc Phiên Dịch. Bấy giờ, phía Ấn Độ có các ngài như: Thắng Hữu (Phạm: Jina-mitra), Giới đế giác (Phạm: Surendra-bodhi), Thí giới (Phạm: Dana-zìla), Giác hữu (Phạm: Bodhimitra), Cát Tường đế giác (Phạm: Zrìndrabodhi), Hỉ khánh giới (Phạm: Anant-zìla), Kim Cương Giới (Phạm: Vajra-zìla), v.v... Về phía Tây tạng thì có các học giả: Bảo tán, Pháp Tính giới, Trí quân, v.v... Những vị này tổ chức 1 dịch trường chặt chẽ. Trước hết, họ đặt ra nguyên tắc dùng từ ngữ Phiên Dịch, sau đó, định tiêu chuẩn thẩm xét sự cấu trúc của những từ ngữ ấy sao cho đúng với văn phạm. Với sự chuẩn bị chu đáo như vậy, các học giả ấy đã soạn ra bộ sách nổi tiếng là Phạm Tạng Đối Chiếu Đại Từ Vựng Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập (Phạm: Mahàvyutpatti). Phần lớn các Kinh Điển trọng yếu của Hiển thừa(giáo) trong Đại Tạng Kinh Tây tạng hiện còn, cũng đã được Phiên Dịch vào thời gian này. Đôi khi cũng có những bản dịch cũ được đem ra hiệu đính, làm cho Phật giáo Tây tạng ở thời kì đầu đạt đến điểm cao. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).