Lại Bộ

《吏部》 lì bù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Bộ Lại là tên gọi của một Cơ Quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, tương đương với cấp bộ ngày nay. Năm Kiến Thỉ () thứ 4 (29 ttl.) thời Hán Thành Đế (, tại vị 33ttl.-7ttl.) lập ra Thường Thị Tào (), đến thời Hán Quang Võ Đế (, tại vị 25-57) đổi thành Lại Tào (). Đến thời Hán Linh Đế (, tại vị 168-189) thì đổi thành Tuyển Bộ (). Từ thời Tào Ngụy (, 220-265) và nhà Tấn (, 265-420) trở đi gọi là Lại Bộ. Dưới thời Tùy (, 581-619), Đường (, 618-907) và Ngũ Đại (, 907-960), bộ này là một trong sáu bộ của Thượng Thư Tỉnh (). Sau này, trong Lại Bộ mới đặt ra các Ty khác như Lại Bộ Ty (), Tư Phong Ty (), Tư Huân Ty (), Khảo Công Ty (), chủ quản các công việc của Quan Văn như quan tước, phong tước, ân ban, thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn, v.v. Thời kỳ đầu nhà Đường, Bộ này còn cai quản cả việc khảo thí khoa cử, đến năm Khai Nguyên thứ 24 (734), thời Đường Huyền Tông (, tại vị 712-756), công việc này được giao lại cho Bộ Lễ. Đến thời kỳ giữa của nhà Đường, các quyền xem xét quan viên và bổ nhiệm, bãi miễn bị thu hồi dần về Thượng Thư Tỉnh. Quan đứng đầu Bộ Lại gọi là Lại Bộ Thượng Thư (, hay Thượng Thư Bộ Lại) với hàm Chánh Tam Phẩm (), cấp dưới lần lượt là Lại Bộ Thị Lang () gồm 2 người với hàm Chánh Tứ Phẩm Thượng (). Dưới nữa là Lang Trung () có 2 người với hàm Chánh Ngũ Phẩm Thượng () và Viên Ngoại Lang () gồm 2 người với hàm Tùng Lục Phẩm Thượng (). Có thời đổi thành Tư Liệt (), Thiên Quan (), Văn Bộ (), sau lại đổi về như cũ. Tất cả những quy định này được thâu lục chi tiết trong Tấn Thư (), Phần Chức Quan Chí (), hay Tân Đường Thư (), phần Bách Quan Chí (). Quan Bộ Lại danh tiếng của Việt Nam là cụ Nguyễn Cư Trinh (, 1716-1767). Ông là danh thần đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (, tại vị 1738-1765), quê ở Thừa Thiên, Huế; vốn người văn võ song toàn, đỗ Hương Cống (), làm quan đến chức Thượng Thư Bộ Lại. Nhiều lần cầm binh đánh dẹp, khai hoang lập ấp, phát triển bờ cõi phía Nam, lập công lớn trong việc chiêu dụ, mở nước, an dân. Ông rất được trọng vọng nhờ am tường chính trị, doanh điền, ngoại giao, có bản tính liêm khiết và phong thái tao nhã. Thơ văn ông còn truyền tụng nhiều, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, độc đáo nhất là Độc Am Thi Tập và bài vè 340 câu Sãi Vãi.