Lặc Na Ma Đề

《勒那摩提》 lēi nà mó tí

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Ratnamati, Jātaka: Rokunamadai ?-?: âm dịch là Lặc Na Bà Đề (), gọi tắt là Lặc Na (), ý dịch là Bảo Ý (), vị tăng Dịch Kinh thời Bắc Ngụy, người miền Trung Ấn Độ, học thức uyên bác, kiêm thông cả sự và lý, biết rành Thiền pháp, thường có chí ngao du phương Bắc. Vào năm thứ 5 (508) niên hiệu Chánh Thỉ () đời vua Tuyên Võ Đế nhà Bắc Ngụy, ông đến Lạc Dương (), phụng sắc cùng Bồ Đề Lưu Chi (Sanskrit: Bodhiruci, ) dịch bộ Thập Địa Kinh Luận () 12 quyển của Thế Thân () cùng với Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luận Ưu Ba Đề Xá () 1 quyển. Không bao lâu sau ông dịch bộ Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận () 4 quyển. Theo Truyện Bồ Đề Lưu Chi trong Lịch Đại Tam Bảo() quyển 9, Tục Cao Tăng Truyện () quyển 1, sau khi Lạc Na Ma Đề cùng với Bồ Đề Lưu Chi dịch bộ Thập Địa Kinh Luận xong, do không hợp ý kiến nhau nên cả hai chẳng qua lại gì với nhau nữa.