La Mạn Na Phái

《羅曼那派》 luó màn nà pài

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Pàli: Ràmaĩĩa-nikàya. Cũng gọi Lam man nặc phái, Mông tộc phái. Tông Phái Phật giáo thuộc Nam truyền Thượng Tọa Bộ ở Tích Lan do Ambagahawatta indasabha, thuộc phái A Ma La Phổ La sáng lập. Là 1 trong 3 Tông Phái lớn của Phật giáo Tích Lan. Vì bất mãn với sự hạn chế về chủng tính trong việc Thụ Giới trong giáo đoàn, nên tỉ khưu Ambagahawatta indasabha mới đến vùng La Mạn Na của Miến Điện sáng lập ra phái này. Năm 1864, phái này từ hạ Miến Điện truyền vào Sri Lanka, có khoảng hơn 2000 tỉ khưu. Chùa viện chủ yếu của phái này hiện nay ở vùng phụ cận Ca Lô Tháp Lạp ở Sri Lanka. Hệ thống tổ chức của phái này là trên hết có 1 vị Đại trưởng lão làm chủ tịch, thống lãnh chúng tăng bản phái trong toàn quốc, dưới có 4 vị phó chủ tịch, kế đó chia làm 2 ban: Sự vụ nghị hội và Tăng Già nghị hội. Phái này qui định tỉ khưu Xuất Gia trọn đời, không thực hành chế độ Xuất Gia trong thời gian ngắn, hơn nữa, người Xuất Gia không Phân Biệt chủng tộc, hòa hợp đoàn kết, giới luật tinh nghiêm; khi đi ra phải cầm lá Đa La(lá bối)để che nắng; không được đi vào đền thờ của người Ấn Độ Giáo và tham dự nghi lễ của họ; không được đến Lễ Bái chùa Phật Nha (chùa thờ răng của đức Phật)ở thành phố Khảm Để (Kandy); không được Bố Thí cho các tỉ khưu thuộc giáo phái khác, không tin thờ bất cứ vị thần linh nào khác ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tăng Chúng phái này rất sùng thượng học vấn nên đã sản sinh khá nhiều bậc thạc học. Về sau, phái này chia ra làm 3 chi phái là: A Lặc Sa (Akuresa), Am Nhĩ Yết Lợi Ngõa (Elgiriva) và Khả Luân Pha (Colombo).