Kinh Tán
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
..... Phạm:Stava. Những bài kệ tụng Tán Thán Kinh Điển. Trong các bài Kinh Tán bằng tiếng Phạm hiện còn, thì có Pháp hoa Kinh Tán (Phạm: Saddharmapuịđarìka-stava) và Tán Bát Nhã Ba La Mật kệ. Trong đó, Pháp hoa Kinh Tán được ghi trong phần đầu bản viết tay kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm do ngài Hà khẩu Tuệ hải, người Nhật bản, mang từ Tây tạng về. Nội dung gồm 20 bài tụng theo điệu Thủ Lô Ca (Phạm:Zloka), ở cuối sách có dòng chữ: A già lợi da La Hầu La Bạt Đà La tạo (Phạm:Kftir àcàrya-Rahulabhadrasya). Ngoài ra còn 1 số Kệ Tán trong kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm do các ông Địch Nguyên Vân Lai, Thổ điền Thắng di hiệu đính và trong kinh Pháp hoa bản dịch tiếng Nhật bản của ông Cương giáo toại. Kệ Tán Bát Nhã Ba La Mật hiện còn thì được chép trong phần đầu của Bát thiên tụng Bát Nhã (Phạm: Awỉasàhasrikaprajĩàpàramità), do ông Rajendralata Mitra xuất bản, gồm 21 bài tụng cũng theo điệu Thủ Lô Ca, trong đó có 1 bản chép tay, trên có ghi dòng chữ: Thị La Hầu La Bạt Đà La chi tác (Phạm: Kftir iyaô Rahulabhadrasya)... Về Kinh Tán của Trung Quốc và Nhật bản, thì trong Tịnh Độ Pháp Sự Tán quyển cuối có ghi Bát Nhã Kinh Tán, A Di Đà Kinh tán văn và Tân vô lượng thọ quán Kinh Tán, Tân A Di Đà Kinh tán của ngài Pháp Chiếu. Trong Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục quyển 1, thì ghi Vu Lan Bồn Kinh Lễ Tán văn, 1 quyển, của các ngài Trí viên, Tịnh nguyên và Linh giám. Ngoài ra, Đông vực Truyền Đăng Mục Lục quyển thượng và Chư Tông Chương Sớ lục quyển 1, cũng chép Hoa nghiêm tán lễ (1 quyển), gồm 10 bài tụng của ngài Pháp Tạng, Quán Thế Âm Kinh Tán(1 quyển), của ngài Cát Tạng, Pháp hoa Kinh Tán tụng (1 quyển), không rõ Tác Giả, Tịnh Danh Kinh tán (1 quyển) của Thạch thượng Đại Nạp Ngôn... [X. luận Đại trí độ Q. 18.; Trung quán luận sớ Q. 10. phần cuối (Cát Tạng)].