Kinh Điển

《經典》 jīng diǎn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tức giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết, về sau tôn giả A Nan (s, Pāli: Ānanda ) và chư tôn đức khác Kết Tập giáo pháp ấy. Ban đầu thì dùng văn chương truyền khẩu, sau đó ghi lại bằng văn chương; phàm văn cú, thư tịch đều gọi là Kinh Điển. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1, Phẩm Tựa (), có đoạn rằng: “Thánh chúa sư tử, Diễn Thuyết Kinh Điển, vi diệu đệ nhất (, sư tử chúa các bậc Thánh, Diễn Thuyết Kinh Điển, vi diệu số một).” Hay trong bài văn Tô Châu Trùng Huyền Tự Pháp Hoa Viện Thạch Bích Kinh Bi () của Bạch Cư Dị (, 772-846) nhà Đường cũng có đoạn: “Phật Niết Bàn hậu, Thế Giới Hư Không, duy thị Kinh Điển, dữ chúng nhân câu (, sau khi Phật nhập Niết Bàn, Thế Giới [trống rỗng như] Hư Không, chỉ có Kinh Điển, cùng mọi người tồn tại).” Hoặc như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), phần Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (), lại có đoạn: “Nhãn trung thường kiến Như Thị Kinh Điển, nhĩ trung thường văn Như Thị Kinh Điển, khẩu trung thường tụng Như Thị Kinh Điển, thủ trung thường thư Như Thị Kinh Điển, tâm trung thường ngộ Như Thị Kinh Điển, nguyện sanh sanh thế thế, tại tại xứ xứ, thường đắc thân cận Hoa Tạng Nhất Thiết thánh hiền (, trong mắt thường thấy Kinh Điển như vậy, trong tai thương nghe Kinh Điển như vậy, trong miệng thường tụng Kinh Điển như vậy, trong tay thường chép Kinh Điển như vậy, trong tâm thường ngộ Kinh Điển như vậy, nguyện đời đời kiếp kiếp, nơi nơi chốn chốn, thường được gần gủi hết thảy thánh hiền của Thế Giới Hoa Tạng).” Hòa Thượng Phước Hậu (1862-1949), từng là Tăng Cang và Trú Trì Chùa Báo Quốc-Huế, có để lại bài thơ rất thâm thúy rằng: “Kinh Điển lưu truyền tám vạn tư, học Hành Không thiếu cũng không dư, đến nay tính lại đà quên hết, chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.”