Kim Kinh

《金經》 jīn jīng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Kinh Điển vàng ngọc. Kinh (Sanskrit: sūtra, Pāli: sutta ), âm dịch là Tu Đa La (), ý dịch là Khế Kinh (), Chánh Kinh (), Quán Kinh (); là từ gọi chung cho tất cả Phật Pháp, hay chỉ cho một loại trong 9 hoặc 12 phần giáo. Từ này còn dùng để chỉ cho các Kinh Điển của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Thù Điền Dật Nhân Du Nham Kiến Tầm Bất Ngộ () của thi nhân Trần Tử Ngang (, 661-702) nhà Đường có câu: “Thạch tủy không doanh ác, Kim Kinh bí bất văn (, nhũ đá rỗng nắm trọn, kinh vàng linh chẳng nghe).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 26, bài thơ Đề Sư Tử Am (), có đoạn: “Sát can cao thụ Thạch Khê đông, bán yểm tùng vân thúy sắc nồng, nhật ngọ Kim Kinh phương bãi độc, nhất thanh Sư Hống Bạch Vân trung (竿, đầu sào cao vút khe đá đông, xanh biếc sắc màu che mây tùng, quá trưa kinh vàng vừa đọc hết, tiếng gầm sư tử mây trắng trong).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) lại có câu: “Quá Khứ hiện tại cập vị lai, Nhất Thiết Hữu Tình Tam Giới biến, ngã Kim Thích huyết tả Kim Kinh, cúng phụng từ vương khất thùy giám, Phù Đồ thất cấp tánh trung quang, Di Đà Nhất Cú tâm đầu niệm, đồng sanh Cực Lạc ly Khổ Luân (, Quá Khứ hiện tại và tương lai, hết thảy hữu tình Ba Cõi khắp, con nay chích máu viết kinh vàng, dâng cúng đức từ xin chứng giám, bảy tầng tháp báu hiện hào quang, Di Đà mọtt câu trong Tâm Niệm, cùng sanh Cực Lạc thoát Luân Hồi).”