Kim Kê
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Con gà đậu trên sao Kim Kê trong truyền thuyết. Về sau, danh từ Kim Kê được chuyển thành dụng ngữ của Thiền Tông. Tổ Đình Sự Uyển quyển 5 (Vạn tục 113, 67 thượng), nói: Nhân Gian vốn không có tên Kim Kê, đó là ứng theo sao Kim Kê trên trời mà gọi. Hễ khi nào Kim Kê trên trời gáy, thì các con gà dưới đất cũng gáy theo. Nhân Thiên Nhãn Mục quyển 3 chép, về từ ngữ Chính trung thiên trong Động Sơn Ngũ Vị, Thiền Sư Phần Dương Thiện Chiêu nói (Đại 48, 314 thượng): Ngọc thố(mặt trăng) sáng lòa sau canh một, Kim Kê phải gáy trước canh năm. Đầu Tử Nghĩa Thanh Thiền Sư Ngữ Lục quyển thượng (Vạn 124, 229 hạ) nói: Chính trung lai, trong lửa Kim Kê ngồi trên đài phượng, đường huyền nương Hư Không vượt qua ngõ hẹp, đường chim rẽ mây ra khỏi trần ai. Câu trước ví dụ Kim Kê là Bản Giác trong tĩnh có động của Chính trung thiên, câu sau ví dụ vô thủy Bản Giác Phật Tính Như Lai Tạng tâm của Chính trung lai là Kim Kê trên đài phượng ở trong lửa. Phần giáp chú(chú thích ở bên cạnh) điều Giang tây Mã tổ trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 6 (Đại 51, 245 hạ) chép: Tổ Bát Nhã Đa La ở Tây Thiên bảo ngài Đạt Ma rằng: Đất Trung hoa rộng bao la, nhưng không có con đường nào khác; phải nhờ chân của con cháu mà đi, Kim Kê biết ngậm một hạt thóc, cúng dường La hán tăng 10 phương. Ở đây ví dụ ngài Bồ Đề Đạt Ma là Kim Kê, ngậm một hạt thóc bay đến bỏ trên đất Hán, về sau làm cho con cháu của Lục tổ Tuệ năng như các ngài Nam Nhạc Hoài nhượng, Thanh Nguyên Hành Tư, v.v...… phồn thịnh, nhờ đó mà Thiền pháp được truyền bá khắp trong nước. [X. Tùy châu Đại hồng sơn Thuần Thiền Sư Ngữ Lục; điều Thiệu trân trong Tục Truyền Đăng lục Q. 11.; Luận Tông môn vô tận đăng Q.thượng].