Kim Cương Y Thiên
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Kim Cương y, Phạm: Vajra-vàsin. Hán âm: Phạ nhật ra phạ thủy. Gọi đủ: Kim Cương y phục thiên. Cũng gọi: Cung tiễn tì na dạ ca thiên, Đính hành đại tướng. Vị trời ngồi ở phía tây của Ngoại Kim Cương Bộ trên Mạn Đồ La Kim Cương Giới Mật giáo. Một trong 5 loại trời đi trong Hư Không, 1 trong 20 vị trời thuộc Ngoại Kim Cương Bộ của Kim Cương Giới Mật giáo. Hình Tượng vị tôn này là đầu voi thân người, mình mầu da người, ngồi trên tòa làm bằng lá sen, tay trái cầm cung, tay phải cầm tên, trong tư thế đang bắn. Chủng Tử là (va), nghĩa là các pháp lìa sự trói buộc, dính mắc; hình Tam Muội da là cung tên. Chân Ngôn là: Án phạ nhật ra phạ thi sa phạ hạ. Lòng Đại Bi của vị tôn này như cái nhau ở trong thai, có công dụng ngăn ngừa sự lạnh nóng cho con, nên gọi là Kim Cương y(áo Kim Cương). Ngoài ra, kinh Đại giáo vương quyển 10 nói rằng: Vị trời Thù Thắng nhất trong các vị trời đi trên Hư Không tên là Kim Cương ái. Như vậy thì Kim Cương y tức là Kim Cương ái. Bởi vì, tên tiếng Phạm của Kim Cương ái làVajra-vazin, có lẽ đã bị viết lầm thành Vajra-vàsin, mà dịch là Kim Cương y. [X. Bí Tạng Kí; Kim Cương Giới thất tập Q.hạ].