Kiên Tuệ

《堅慧》 jiān huì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Sāramati. Dịch âm: Sa ra Mạt Để. Cao Tăng Ấn Độ, thuộc dòng dõi Sát Đế Lợi, trụ ở chùa Na lan đà, miền Trung Ấn Độ. Thủa nhỏ, ngài đã thông minh mẫn tiệp, rất giỏi Ngoại Điển. Sau khi Xuất Gia, ngài học tập cả giáo lí Đại Tiểu Thừa, thông hiểu sâu sắc, nhưng khế hợp với tư tưởng Đại Thừa hơn. Theo điều Phạt Lạp Tì Quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, ngài đến ở nước Phạt lạp tì, tại đây, ngài cùng với ngài Đức tuệ soạn chung luận A Chiết La để xiển dương giáo lí. Nhưng, theo Đại Thừa Pháp GiớiSai Biệt Luận sớ quyển thượng, thì ngài Kiên Tuệ ra đời vào khoảng 700 năm sau đức Phật Nhập Diệt, còn ngài Đức tuệ thì xuất sinh khoảng 900 năm sau đức Phật Nhập Diệt(tức khoảng hậu bán thế kỉ V đến tiền bán thế kỉ VI), cho nên rất khác với niên đại của ngài Kiên Tuệ ở trên. Ngoài ra, còn điểm gây tranh cãi nữa là: Phải chăng ngài Kiên Tuệ này và ngài Kiên Tuệ soạn bộ luận Pháp GiớiSai Biệt cùng với ngài Kiên ý (Phạm:Sthiramati, hoặc Sàramati) soạn bộ luận Nhập Đại Thừa cùng là 1 người? Về điểm này, có thuyết cho rằng 2 vị là 1 người, có thuyết căn cứ vào tên chữ Phạm giống nhau mà cho cả 3 người là
1. Ngài có các tác phẩm: Luận Cứu Cánh Nhất Thừa bảo tính, luậnPháp giới vô Sai Biệt. [X. điều Ma Yết Đà Quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí Q. 9.; Hoa Nghiêm Kinh Truyện Kí; Đại Thừa Pháp GiớiSai Biệt Luận sớ Q.thượng].