Khôn Nghi
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có ba nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho đại địa. Như trong bài thơ Đáp Lô Kham (答盧諶) của Lưu Côn (劉琨, 270-317) nhà Tấn có câu: “Càn Tượng đống khuynh, Khôn Nghi chu phú (乾象棟傾、坤儀舟覆, trời cao mái nghiêng, đất cả thuyền che).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Âm Nhạc Chí (音樂志) 3 lại có câu: “Đại hỉ Khôn Nghi, chí tai Thần Huyện (大矣坤儀、至哉神縣, lớn thay đại địa, to thay Thần Huyện [Trung Hoa]).” (2) Nhà tướng số lấy Ngũ Nhạc (五嶽, tức 5 ngọn núi lớn, gồm Đông Nhạc Thái Sơn [東嶽泰山] ở Thái An [泰安], Sơn Đông [山東]; Nam Nhạc hành sơn [南嶽衡山] ở Hành Sơn [衡山], Hồ Nam [湖南]; Tây Nhạc Hoa Sơn [西嶽華山] ở Hoa Âm [華陰], Thiểm Tây [陝西]; Bắc Nhạc Hằng Sơn [北嶽恆山] ở Đại Đồng [大同], Sơn Tây [山西]; và Trung Nhạc Tung Sơn [中嶽嵩山] ở Đăng Phong [登封], Hà Nam [河南]), Tứ Độc (四瀆, tức 4 con sông lớn, gồm Trường Giang [長江], Hoàng Hà [黃河], Hoài Hà [淮河] và Tế Thủy [濟水]) trên mặt đất tỷ dụ cho 5 giác quan và các bộ phận trên khuôn mặt con người; cho nên gọi dung mạo, bề ngoài của con người là Khôn Nghi. (3) Cũng như mẫu nghi thiên hạ, phần lớn được dùng để xưng tụng hoàng hậu, được xem như là tiêu biểu, mực thước cho người mẹ của thiên hạ. Như trong bài Úy Thái Hậu Biểu (慰太后表) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Phương chánh Khôn Nghi chi vị, thượng đồng càn thí chi nhân (方正坤儀之位、上同乾施之仁, mới đúng mẫu nghi cương vị, trên giống trời ban lòng nhân).”