Khoáng Dã Thần

《曠野神》 kuàng yě shén

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm:Àỉavika hoặcÀỉavaka. Dịch âm: A tra bạc câu, A tra bà câu. Dịch nghĩa: người rừng, ở rừng. Cũng gọi Khoáng dã quỉ thần, Khoáng dã quỉ, Khoáng dã Dạ Xoa. Thần ở đồng trống, 1 trong 16 thần Dược Xoa. Trong Phật giáo xưa nay có Pháp Thí thực, tức là đem thức ăn Bố Thí cho thần này. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 15 (bản Nam), thì khi đức Phật còn tại thế, thần Khoáng dã ở trong làng xóm, đồng nội, ăn thịt nhiều Chúng Sinh, sau tuy được đức Phật giáo hóa, nhưng vẫn ăn thịt uống máu để sống còn, vì thế Phật chế giới, bất cứ chỗ nào có người tu Hành Phật pháp đều phải Bố Thí thức ăn cho thần này. Theo kinh Quán Phật Tam Muội hải, thì loài qủi thần này có 1 cổ, 6 đầu, 6 mặt, đầu gối có 2 mặt, khắp mình mọc lông giống như các mũi tên sắt, hễ cử động thì lông bắn ra, trợn mắt đỏ ngầu, máu chảy ròng ròng. Ở phía bắc Sông Hằng và cách đền thờ trời Na la diên về mạn đông có 1 ngôi tháp, tức là nơi mà ngày xưa đức Phật hàng phục và giáo hóa thần Khoáng dã. Mật giáo thờ thần Khoáng dã để tiêu trừ các chướng nạn như Ác Thú, nước lửa, đao binh, v.v... và coi họ như Thiện Thần giữ gìn đất nước và Chúng Sinh. Tông Thai Mật của Nhật bản rất xem trọng thần Khoáng dã, thường thờ làm Bản Tôn khi tu pháp Trấn Hộ Quốc Gia và tôn xưng là Đại nguyên Súy Minh Vương. [X. kinh Kim quang tối thắng vương Q. 9.; kinh Quán Phật Tam Muội hải Q. 2.; Đại Đường Tây Vực Kí Q. 7.].