Khai Phế Hội

《開廢會》 kāi fèi huì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho 3 nghĩa Khai Hội của Bản môn và Tích môn trong kinh Pháp hoa theo sự phán thích của tông Thiên thai. Phần Tích môn trong 14 phẩm trước của kinh Pháp hoa nói rõ ý chỉ Khai quyền hiển thực, Phế quyền lập thực và Hội tam qui nhất để giải thích lí tất cả là Nhất Phật Thừa. Phần Bản môn trong 14 phẩm sau là thuyết minh ý chỉ Khai Tích Hiển Bản, Phế Tích Hiển Bản và Hội tích qui bản để giải thích sự Cửu Viễn Bản Phật(đã Thành Phật từ lâu xa). Khai là khai trừ quyền giáo, tích môn; Phế là phế bỏ quyền giáo, tích môn, Hội là hội nhập quyền giáo và tích môn để trở về thực giáo và bản môn. Khai quyền hiển thực, Khai Tích Hiển Bản nêu trên là nói theo thể của giáo pháp; Phế quyền lập thực, Phế Tích Hiển Bản là nói theo dụng của sự Hóa Đạo; còn Hội tam qui nhất, Hội tích Hiển Bản thì nói theo sự tu hành. Đứng về phương diện Bản Thể của giáo pháp thì gọi là Khai quyền hiển thực, tức là đối với thực giáo mà nói thì quyền giáo là giáo pháp Phương Tiện. Trừ bỏ sự chấp trước đối với quyền giáo thì thực giáo có thể hiển hiện. Đứng về mặt Phương Tiện giáo hóa Chúng Sinh thì gọi là Phế quyền lập thực, tức là đã trừ bỏ sự chấp trước quyền giáo mà hội nhập thực giáo rồi thì không cần đến quyền giáo nữa. Nghĩa là đã đạt đến cứu kính thì không cần Phương Tiện nữa. Đứng về phương diện tu hành thực tiễn mà nói thì gọi là Hội tam qui nhất; tức là Tam Thừa Thanh Văn, Duyên GiácBồ Tát đều có thể hội nhập Nhất ThừaThành Phật. Bản môn Pháp hoa nhắm vào Phật Thân cũng có thể dùng Khai Tích Hiển Bản, Phế Tích Hiển Bản và Hội tích Hiển Bản để xiển minh Diệu Pháp quyền thực Nhất Thể. Pháp hoa kinh Huyền Nghĩa quyển 9 phần cuối, về Bản môn, Tích môn mỗi môn lại lập 10 lớp để giải thích rõ lực dụng của kinh Pháp hoa như sau: - Mười lớp trong Tích môn: Phá tam hiển nhất, Phế Tam Hiển Nhất, Khai Tam Hiển Nhất, Hội tam hiển nhất, Trụ nhất hiển nhất, Trụ tam hiển nhất, Trụ Phi Tam Phi Nhất hiển nhất, Phú tam hiển nhất, Trụ tam dụng nhất và Trụ nhất dụng tam. Mười lớp này cũng có thể phối với Thập Diệu của Tích môn. - Mười lớp của Bản môn: Phá Tích Hiển Bản, Phế Tích Hiển Bản, Khai Tích Hiển Bản, Hội tích Hiển Bản, Trụ bản Hiển Bản, Trụ tích Hiển Bản, Trụ Phi Tích phi bản Hiển Bản, Phú tích Hiển Bản, Trụ tích dụng bản và Trụ bản dụng tích. Mười lớp này cũng có thể phối với Tập diệu của Bản môn. Ngoài ra, 10 lớp của Bản môn, Tích môn cũng có thể phối với Tứ tất đàn. Phương pháp phối hợp được nói rõ ràng trong Pháp hoa kinh Huyền Nghĩa. [X. phẩm Phương Tiện kinh Pháp hoa Q. 1., phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa Q. 4.; Pháp hoa kinh Huyền Nghĩa Q. 5. phần trên, Q. 7. phần dưới; Pháp Hoa Huyền Nghĩa thích tiêm Q. 1.; Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kí Q. 1.-3; Pháp Hoa Văn Cú Q. 3. thượng, Q. 3. hạ, Q. 4. thượng, Q. 4. hạ; Pháp Hoa Huyền Luận Q. 2., Q. 4., Q. 5.]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Phế Câu Thời, Liên Hoa Tam Dụ).