Hữu Tưởng Luận
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Luận thuyết cho rằng Chúng Sinh sau khi chết vẫn có các Tác Dụng ý thức như: Cảm Giác, Nhận Thức, ý chí, tư duy, v.v... Đây là thường kiến trong 62 loại kiến chấp của Ngoại Đạo ở Ấn Độ đời xưa. Cứ theo luận Du Già sư địa quyển 6, thì do 4 loại Tứ Cú mà tạo thành 16 loại Hữu Tưởng Luận. Tứ Cú thứ 1: Tưởng và Sắc đối đãi nhau.
1. Hữu sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã hữu sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là Sắc Pháp và cho rằng sau khi chết, Ngã vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, nhưng không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng.
2. Vô sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã vô sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là vô Sắc Uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng.
3. Diệc hữu sắc diệc vô sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã diệc hữu sắc diệc vô sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là Ngũ Uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở khắp cõi Dục.
4. Phi hữu sắc phi vô sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã phi hữu sắc phi vô sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Tức cho rằng Ngã chẳng phải sắc chẳng phải tâm, Thường Trụ không hoại diệt. Tứ Cú thứ 2: Tưởng và Biên, Vô biên đối đãi nhau.
1. Hữu Biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã Hữu Biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là sắc hoặc chẳng phải sắc, cho thể của Ngã cũng như sở y, Sở Duyên của nó đều có tính Sai Biệt, tính giới hạn, sau khi chết cũng có ý thức và tồn tại ở cõi Dục, cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng.
2. Vô biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã vô biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là Sắc Pháp hoặc chẳng phải Sắc Pháp, trùm khắp tất cả mọi chỗ, sau khi chết vẫn có ý thức, tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục.
3. Diệc Hữu Biên diệc vô biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã diệc Hữu Biên diệc vô biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Nếu chấp trước Ngã là Sắc Pháp thì cho rằng lượng của Ngã tùy theo sự biến hiện của thân sở y mà là Hữu Biên hay vô biên; nếu chấp trước Ngã chẳng phải là Sắc Pháp thì cho rằng tùy theo sở y và Sở Duyên có hạn lượng hay không hạn lượng, mà Hữu Biên hoặc vô biên; sau khi chết vẫn có ý thức và tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục.
4. Phi Hữu Biên phi vô biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã phi Hữu Biên phi vô biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Không thừa nhận Ngã là Hữu Biên hay vô biên và chủ trương sau khi chết sinh về cõi Hữu Tưởng. Tứ Cú thứ 3:
1. Nhất tưởng (cũng gọi Ngã hữu nhất tưởng, Duy Nhất tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở 3 tầng trời dưới trong 4 tầng trời cõi Vô sắc, thì các tưởng của Ngã chỉ nương vào ý môn mà Lưu Chuyển, cho nên Ngã chỉ có 1 tưởng.
2. Chủng chủng tưởng (cũng gọi Nhược can tưởng, Ngã hữu chủng chủng tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở cõi Dục, cõi Sắc thì các tưởng của Ngã nương vào lục Căn Môn mà chuyển, duyên theo nhiều cảnh, cho nên Ngã có nhiều thứ tưởng.
3. Tiểu tưởng (cũng gọi Ngã hữu tiểu tưởng): Chấp trước, Ngã là tiểu sắc, tiểu vô sắc, nương vào tiểu thân, duyên theo tiểu cảnh, cho nên là Ngã nhỏ hẹp. Trong đó, nếu cho ngã là tiểu Sắc Uẩn , thì Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng. Còn nếu cho Ngã là tiểu vô Sắc Uẩn (tức bất cứ một uẩn nào trong 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức), thì trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ.
4. Vô lượng tưởng (cũng gọi Ngã hữu vô lượng tưởng): Chấp trước Ngã là Sắc Uẩn vô lượng, hoặc chấp trước Ngã là vô Sắc Uẩn (thụ, tưởng, hành, thức) vô lượng. Trong đó, nếu chấp trước Ngã là Sắc Uẩn thì Ngã trùm khắp tất cả mọi chỗ, lấy ý thức làm Ngã Sở nương vào vô lượng thân, duyên theo vô lượng cảnh, hợp cùng với Sắc Uẩn kia, cho nên có vô lượng tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. Còn nếu chấp trước Ngã là vô Sắc Uẩn vô lượng, thì ngoài trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. Tứ Cú thứ 4:
1. Ngã thuần hữu lạc (cũng gọi Hữu lạc Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi trời Sơ Thiền, Nhị thiền và Tam thiền cõi Sắc.
2. Ngã thuần hữu khổ (cũng gọi Hữu khổ Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở Địa Ngục.
3. Ngã hữu khổ hữu lạc(cũng gọi Hữu khổ hữu lạc Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi quỉ đói, Súc Sinh, người và các trời cõi Dục.
4. Ngã vô khổ vô lạc(cũng gọi Phi hữu khổ phi hữu lạc Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở cõi trời Đệ Tứ Thiền cõi Sắc trở lên. Bốn loại kiến giải trên đây đều cho rằng đời này, đời khác giống nhau, các Cảm Giác như khổ, vui, v.v... là khách, còn Ngã thể thì Lưu Chuyển trong trạng thái mờ mịt, sau khi chết thì vẫn có ý thức. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q. 14.; luận Đại tì Bà Sa Q. 199.; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 6.]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Thường Kiến).
1. Hữu sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã hữu sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là Sắc Pháp và cho rằng sau khi chết, Ngã vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, nhưng không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng.
2. Vô sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã vô sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là vô Sắc Uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng.
3. Diệc hữu sắc diệc vô sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã diệc hữu sắc diệc vô sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là Ngũ Uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở khắp cõi Dục.
4. Phi hữu sắc phi vô sắc Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã phi hữu sắc phi vô sắc tử hậu Hữu Tưởng Luận): Tức cho rằng Ngã chẳng phải sắc chẳng phải tâm, Thường Trụ không hoại diệt. Tứ Cú thứ 2: Tưởng và Biên, Vô biên đối đãi nhau.
1. Hữu Biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã Hữu Biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là sắc hoặc chẳng phải sắc, cho thể của Ngã cũng như sở y, Sở Duyên của nó đều có tính Sai Biệt, tính giới hạn, sau khi chết cũng có ý thức và tồn tại ở cõi Dục, cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng.
2. Vô biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã vô biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Chấp trước Ngã là Sắc Pháp hoặc chẳng phải Sắc Pháp, trùm khắp tất cả mọi chỗ, sau khi chết vẫn có ý thức, tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục.
3. Diệc Hữu Biên diệc vô biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã diệc Hữu Biên diệc vô biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Nếu chấp trước Ngã là Sắc Pháp thì cho rằng lượng của Ngã tùy theo sự biến hiện của thân sở y mà là Hữu Biên hay vô biên; nếu chấp trước Ngã chẳng phải là Sắc Pháp thì cho rằng tùy theo sở y và Sở Duyên có hạn lượng hay không hạn lượng, mà Hữu Biên hoặc vô biên; sau khi chết vẫn có ý thức và tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục.
4. Phi Hữu Biên phi vô biên Hữu Tưởng (cũng gọi Ngã phi Hữu Biên phi vô biên tử hậu Hữu Tưởng Luận): Không thừa nhận Ngã là Hữu Biên hay vô biên và chủ trương sau khi chết sinh về cõi Hữu Tưởng. Tứ Cú thứ 3:
1. Nhất tưởng (cũng gọi Ngã hữu nhất tưởng, Duy Nhất tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở 3 tầng trời dưới trong 4 tầng trời cõi Vô sắc, thì các tưởng của Ngã chỉ nương vào ý môn mà Lưu Chuyển, cho nên Ngã chỉ có 1 tưởng.
2. Chủng chủng tưởng (cũng gọi Nhược can tưởng, Ngã hữu chủng chủng tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở cõi Dục, cõi Sắc thì các tưởng của Ngã nương vào lục Căn Môn mà chuyển, duyên theo nhiều cảnh, cho nên Ngã có nhiều thứ tưởng.
3. Tiểu tưởng (cũng gọi Ngã hữu tiểu tưởng): Chấp trước, Ngã là tiểu sắc, tiểu vô sắc, nương vào tiểu thân, duyên theo tiểu cảnh, cho nên là Ngã nhỏ hẹp. Trong đó, nếu cho ngã là tiểu Sắc Uẩn , thì Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng. Còn nếu cho Ngã là tiểu vô Sắc Uẩn (tức bất cứ một uẩn nào trong 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức), thì trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ.
4. Vô lượng tưởng (cũng gọi Ngã hữu vô lượng tưởng): Chấp trước Ngã là Sắc Uẩn vô lượng, hoặc chấp trước Ngã là vô Sắc Uẩn (thụ, tưởng, hành, thức) vô lượng. Trong đó, nếu chấp trước Ngã là Sắc Uẩn thì Ngã trùm khắp tất cả mọi chỗ, lấy ý thức làm Ngã Sở nương vào vô lượng thân, duyên theo vô lượng cảnh, hợp cùng với Sắc Uẩn kia, cho nên có vô lượng tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. Còn nếu chấp trước Ngã là vô Sắc Uẩn vô lượng, thì ngoài trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. Tứ Cú thứ 4:
1. Ngã thuần hữu lạc (cũng gọi Hữu lạc Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi trời Sơ Thiền, Nhị thiền và Tam thiền cõi Sắc.
2. Ngã thuần hữu khổ (cũng gọi Hữu khổ Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở Địa Ngục.
3. Ngã hữu khổ hữu lạc(cũng gọi Hữu khổ hữu lạc Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi quỉ đói, Súc Sinh, người và các trời cõi Dục.
4. Ngã vô khổ vô lạc(cũng gọi Phi hữu khổ phi hữu lạc Hữu Tưởng): Cảm thụ của Ngã ở cõi trời Đệ Tứ Thiền cõi Sắc trở lên. Bốn loại kiến giải trên đây đều cho rằng đời này, đời khác giống nhau, các Cảm Giác như khổ, vui, v.v... là khách, còn Ngã thể thì Lưu Chuyển trong trạng thái mờ mịt, sau khi chết thì vẫn có ý thức. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q. 14.; luận Đại tì Bà Sa Q. 199.; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 6.]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Thường Kiến).