Huệ Trướng

《蕙帳》 huì zhàng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: phòng thất tràn đầy mùi hương nhè nhẹ của hoa Lan và Huệ. Huệ Trướng còn là tên gọi khác rất hoa mỹ về bức màn the. Trong bài Bắc Sơn Di Văn () của Khổng Nhã Khuê (, 447-501) nhà Tề, thời Nam Triều có câu: “Huệ Trướng không hề dạ hộc oán, sơn nhân khứ hề hiểu viên kinh (, màn the trống chừ đêm ngỗng oán, người núi đi chừ sáng vượn buồn).” Hay trong bài thơ Đề Định Lâm Bích Hoài Lý Thúc Thời () của Vương An Thạch (, 1021-1086) nhà Tống lại có câu: “Liệu lô vô phục hỏa, Huệ Trướng lãnh không sơn (, đốt lò không chút lửa, màn the lạnh núi hoang).” Hoặc trong Thanh Vận Khải Mông () quyển 1 có đoạn rằng: “Lâu đối các, hộ đối song, cự hải đối trường giang, dung thường đối Huệ Trướng, ngọc giả đối ngân công (, lầu đối với gác, cửa lớn đối với cửa sổ, biển lớn đối với sông dài, áo đẹp đối với màn thơm, chén ngọc đối với bầu đồng).”