Huệ Mạng

《慧命》 huì mìng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: āyuṣmat, Pāli: āyasmant: ý dịch là Cụ Thọ mạng () Cụ Thọ (); cũng là từ tôn xưng đối với vị Tỳ Kheo cao đức, còn gọi là huệ thọ (). Giống như Sắc Thân thì nương tựa vào ăn uống để nuôi dưỡng, Pháp Thân lấy trí tuệ làm thọ mạng nuôi dưỡng; nên mạng của trí tuệ bị thương tổn thì thể của Pháp Thân mất đi. Vì tuệ là thọ mạng của Pháp Thân, nên được gọi là tuệ [huệ] mạng. Như trong Tăng Già Tra Kinh (, Taishō Vol. 13, No. 423) quyển 1 có đoạn: “Nhất Thời Bà Già Bà, tại Vương Xá Thành Linh Thứu Sơn trung, cọng Ma Ha Tỳ Kheo tăng nhị vạn nhị thiên nhân câu, kỳ danh viết, Huệ Mạng A Nhã Kiều Trần Như, Huệ Mạng Ma Ha Mô Già Lược, Huệ Mạng Xá Lợi Tử, Huệ Mạng Ma Ha Ca Diếp, Huệ Mạng La Hầu La, Huệ MạngCâu La, Huệ Mạng Bạt Đà Tư Na, Huệ Mạng Hiền Đức, Huệ Mạng Hoan Hỷ Đức, Huệ Mạng Võng Chỉ, Huệ Mạng Tu Phù Đế, Huệ Mạng Nan Đà Tư Na (, một thưở nọ đức Bà Già Bà, ở trong núi Linh Thứu Thành Vương Xá, cùng với đại Tỳ Kheo tăng hai vạn hai ngàn người tập trung, tên các vị đó là A Nhã Kiều Trần Như tôn kính, Ma Ha Mô Già Lược tôn kính, Xá Lợi Tử tôn kính, Ma Ha Ca Diếp tôn kính, La Hầu La tôn kính, Bà Câu La tôn kính, Bạt Đà Tư Na tôn kính, Hiền Đức tôn kính, Hoan Hỷ Đức tôn kính, Võng Chỉ tôn kính, Tu Phù Đế tôn kính, Nan Đà Tư Na tôn kính).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 15, phần Thỉnh Phương Sách Tạng Kinh Ký (), lại có đoạn: “Chư Phật Huệ mạng, phi văn tự dã; nhiên thác chi văn tự dĩ truyền; cố thiện độc giả, hóa văn tự vi Huệ Mạng; Bất Thiện độc giả, hóa Huệ Mạng vi văn tự (, Huệ Mạng của chư Phật, chẳng phải là chữ nghĩa; nhưng nhờ vào chữ nghĩa mà lưu truyền; cho nên người khéo đọc thì chuyển chữ nghĩa thành Huệ Mạng; người không khéo đọc thì chuyển Huệ Mạng thành chữ nghĩa).”