Huệ Năng

《慧能》 huì néng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

hay, Enō, 638-713: vị tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Hoa, họ là Lô (), người Phạm Dương (, thuộc Tỉnh Hà Bắc ngày nay), sinh tại Tân Châu (, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Quảng Đông), nhụ hiệu Đại Giám Thiền Sư (), thường được gọi là Đại Giám Huệ Năng (), hay Lục Tổ Đại Sư (). Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã sống trong cảnh cực khổ cơ hàn, thường hay đi hái củi nuôi mẹ. Một hôm, ông nghe có tiếng tụng Kinh Kim Cang trong chợ, bỗng nuôi chí xuất gia; sau ông đến tham yết Trí Viễn (), và thể theo lời khuyên của vị nầy, năm lên 24 tuổi, ông đến tham bái Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn () ở Đông Thiền Viện () vùng Đông Sơn (), Kì Châu (, thuộc Huyện Hoàng Mai, Tỉnh Hồ Bắc). Được tám tháng, ông làm bài kệ nổi tiếng “Bồ đề bổn vô thọ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ hữu trần ai (, Bồ Đề vốn không cây, gương sáng chẳng có đài, xưa nay chẳng một vật, nơi nào nhuốm bụi trần)”, nửa đêm đem trình cho Hoằng Nhẫn, được truyền thừa y bát và chạy trốn về phương Nam. Trong bốn năm trường, ông luôn nhớ lời thầy dạy, sống ẩn náu trong nhà người thợ săn, đến năm 677, ông đến Pháp Tánh Tự () ở Nam Hải (, Tỉnh Quảng Đông), theo xuất gia với Ấn Tông (), rồi bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình, và có được rất nhiều người quy ngưỡng theo ông. Đến năm 705, vua Trung Tông () sai sứ đến triệu thỉnh ông, nhưng ông cáo bệnh không nhận lời. Nhà vua lại ban sắc chỉ cho đổi Bảo Lâm Tự () thành Trung Hưng Tự () và ban sắc ngạch cho Pháp Tuyền Tự (). Ngoài ra, nhà vua còn cho biến nhà cũ của Huệ Năng thành Quốc Ân Tự (), cho dựng nơi ấy ngôi Báo Ân Tháp (), và vào ngày mồng 3 tháng 8 năm thứ 2 (713) niên hiệu Tiên Thiên (), ông thị tịch tại chùa nầy. Vào năm 816, Hoàng Đế Hiến Tông () ban cho ông nhụ hiệu Đại Giám Thiền Sư (), và đặt tên tháp là Nguyên Hòa Linh Chiếu Chi Tháp (). Liễu Tông Nguyên () soạn ra bài minh cho tháp. Đến năm 978, Hoàng Đế Thái Tông () còn ban thêm cho thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Thiền Sư () và tên tháp là Thái Bình Hưng Quốc Chi Tháp (). Đến năm 1032, Hoàng Đế Nhân Tông () cho đem chơn thân và pháp y của Huệ Năng vào trong cung nội làm lễ cúng dường và ban cho thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Thiền Sư (). Vào năm 1082, Hoàng Đế Thần Tông () còn ban thêm thụy hiệu là Đại Giác Chơn Không Phổ Giác Viên Minh Thiền Sư (). Hơn 40 năm trường, Huệ Năng đã từng giáo hóa ở Thiều Châu (, thuộc Tỉnh Quảng Đông ngày nay) và Quảng Châu (), trong đó những bài thuyết pháp của ông tại Đại Phạn Tự () vùng Thiều Châu, được biên tập thành văn bản dưới tên Lục Tổ Đàn Kinh () rất nỗi tiếng và được lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay. Bên cạnh đó ông còn trước tác Kim Cang Kinh Giải Nghĩa () 2 quyển. Thần Tú (, 605-706), người đồng môn với ông, lớn hơn ông 30 tuổi, và nhờ sự tiến cử của Thần Tú mà Tắc Thiên Võ Hậu () đã có lần cung thỉnh Huệ Năng. Thuyết cho rằng Thần Tú hủy báng việc truyền pháp được xem như là do hậu thế tạo nên, nhưng vẫn có căn cứ của nó. Thần Tú thì giáo hóa ở phương Bắc thuộc các vùng phụ cận của Trường An (), Lạc Dương () với chủ nghĩa tiệm tu. Còn Huệ Năng thì bố giáo ở phương Nam với chủ nghĩa đốn tu. Đời sau, người ta gọi hai trường phái nầy là Nam Đốn Bắc Tiệm (), hay Nam Tông Thiền () và Bắc Tông Thiền (). Về sau, Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ cũng là nhờ có nhiều nhân vật kiệt xuất thuộc pháp hệ nầy xuất hiện. Những môn đệ xuất sắc của Huệ Năng như Thanh Nguyên Hành Tư (, ?-740), Nam Nhạc Hoài Nhượng (, 677-744), Hà Trạch Thần Hội (, 684-760), Vĩnh Gia Huyền Giác (, 675-713), Nam Dương Huệ Trung (, ?-775).