Hoàng Bá Tông

《黃檗宗》 huáng bò zōng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Một trong 3 phái của Thiền Tông Nhật bản. Năm Vĩnh lịch thứ 8 (1654), ngài Ẩn nguyên Long Kì (1592-1673) ở Vạn phúc Thiền tự, núi Hoàng bá, Trung Quốc và ngài Độc trạm nhận lời thỉnh của sư Dật nhiên ở chùa Sùng phúc tại Trường kì Nhật bản, cùng đến hoằng dương Thiền Lâm tế tại Nhật. Năm 1658, Đức Xuyên Gia cương hiến cho ngài một khu đất ở Sơn thành và đến năm 1662 ngài lập Hoàng Bá Sơn Vạn phúc thiền tự trên khu đất này, khai sáng tông Hoàng bá. Năm 1666, Đệ Tử là Mộc am Tính Thao kế thừa Vạn phúc Thiền tự, ngài Ẩn nguyên đến vùng Bạch kim vùng Giang hộ sáng lập chùa Thánh thụy và mở rộng Thiền Phong ở chùa Chính Minh tại Cận Giang. Nhờ đó tông Hoàng bá được đến đất Quan đông. Nhưng sau thời trung hưng của ngài Cao tuyền Tính đôn, Tổ đời thứ 5 của tông Hoàng bá, thì chùa Vạn phúc dần dần suy vi. Đến năm Gia hòa thứ 4 (1851) mới được ngài Lương Trung đời thứ 33 chấn chỉnh Tông Môn thì Tông Phong mới được hưng thịnh trở lại. Năm Minh trị thứ 7 (1874), tông Hoàng bá được sáp nhập với tông Lâm tế. Nhưng năm Minh trị thứ 9 (1876) lại tuyên bố độc lập. Tông này lấy chùa Vạn phúc làm tổng Bản Sơn, ngoài ra còn có hơn 500 chùa trực thuộc. Tông Chỉ của tông này là khai thị Pháp Môn Chính Pháp Nhãn Tạng, thực tướng Vô Tướng . Ngoài ra còn lấy Giáo Thiền Nhất Như làm tông qui. Khi thừa kế Tông Phong phái Dương Kì Tông Lâm tế ở Trung Quốc, ngài Ẩn nguyên chủ trương Thiền tịnh Nhất Như , tuyên dương Tín Ngưỡng Tịnh Độ của đức Phật A di đà và khuyến khích mọi người tu Niệm Phật Thiền , khác hẳn với Tông Phong của các Thiền phái khác tại Nhật bản, Ngài lại cho rằng Muôn pháp Duy Tâm, ngoài tâm không có pháp khác , Thân mình là Di đà, tâm mình là Tịnh Độ , v.v.. cũng lại khác với Tín Ngưỡng của tông Tịnh Độ nói chung. Ngài cũng tụng kinh theo âm Hán, đối với các Pháp Hội và phương thức tu hành vẫn giữ phong cách đời Minh, Trung Quốc. [X. Hoàng Bá Tông Giám Lục; Phật giáo các tông cương yếu Q. 9.]. (xt. Lâm Tế Tông).