Hoài Tố
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Hoài Tố (634-707). Vị tăng thuộc Luật Tông ở đời Đường, người Kinh triệu (Tây an, Thiểm tây), họ Phạm. Sư thông minh nhanh nhẹn từ nhỏ, tính khí rộng rãi, năm 12 tuổi, sư y vào ngài Huyền Trang Xuất Gia, chuyên học kinh luận. Sau khi Thụ Giới, sư theo ngài Đạo tuyên học tập Tứ phần Luật Hành sự sao. Tiếp đó, sư lại học Tứ phần luật sớ nơi ngài Đạo thành (Đệ Tử của Luật Sư Pháp Lệ). Về sau, vì cảm khái về nghĩa luật của cổ nhân chưa được rõ ràng, nên sư mới soạn thuật Tứ phần luật khai tông kí 20 quyển, sửa chữa các bản sớ cũ, tổng cộng có 16 lỗi và lập một thuyết riêng biệt gọi là Tân sớ, để Phân Biệt với Tứ phần luật sớ của ngài Pháp Lệ. Từ đó, thuyết mới do sư lập ra, được gọi là Đông tháp Luật Tông, cùng với Tướng bộ tông của ngài Pháp Lệ và Nam Sơn Tông của ngài Đạo tuyên, gọi chung là Luật học Tam Đại tông, tạo thành thế chân vạc. Lúc đầu, sư trụ ở chùa Hoằng tế tại Trường an. Niên hiệu Thượng nguyên thứ 3 (676), sư vâng chiếu đến ở chùa Tây thái nguyên, mở Đạo Tràng hoằng truyền giới luật, người học rất đông. Niên hiệu Cảnh long năm đầu (707), sư tịch, thọ 74 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: Câu Xá Luận Sớ, Di Giáo Kinh sớ, Tứ phần tỉ khưu giới bản sớ, Tăng Yết Ma, Ni Yết Ma… [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 14.; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên Thích Giáo Q.trung; Chư Tông Chương Sớ lục Q. 1., Q. 2.].II. Hoài Tố (737-?). Tăng sĩ kiêm thư pháp gia sống vào đời Đường, người Trường sa (tỉnh Hồ nam), họ Tiền, tự Tàng chân. Thủa nhỏ Sư Thích đọc sách Phật, khi rảnh rỗi thì tập viết chữ, nhưng vì nhà nghèo không có giấy để viết, nên sư phải dùng lá chuối và mâm sơn để tập viết. Sư lần lượt học theo bút pháp của Âu dương tuân, Ổ đồng, Trương húc, sau lại học cách viết của các danh sĩ đương thời và chiêm ngưỡng những thư pháp tuyệt bút của người xưa để lại. Tính tình sư hào phóng, không chấp tiểu tiết, rất thích uống rượu, mỗi khi say thì phóng bút viết đầy chữ trên vách chùa, tường nhà, đồ sứ, v.v... Sư viết chữ thảo rất đẹp, đặc biệt nổi tiếng về cuồng thảo (mỗi khi say sư viết chữ thảo lại càng đẹp) sư tự xưng đã đạt được Thảo thánh Tam Muội, cho là người thừa kế bút pháp của Trương húc, bởi thế người đời mới gọi Điên Trương Cuồng Tố (Trương húc điên, Hoài Tố khùng). Sư còn có Bản Kinh Tứ thập nhị chương viết bằng chữ thảo lưu truyền ở đời. Hiện nay ở trấn Vĩnh châu, huyện Linh lăng, tỉnh Hồ nam, gần nền cũ của am Lục thiên, còn một tấm bia đá từ đời nhà Thanh có khắc 1.000 chữ của sư Hoài Tố, gần đó là những di tích ao mực, gò bút, v.v... Không rõ sư mất năm nào, chỉ biết vào năm Trinh nguyên 15 (799) đời Đường sư vẫn còn sống, lúc ấy sư 63 tuổi. Tác phẩm: Tự tự thiếp, Thiên kim thiếp, Thánh mẫu thiếp, Tàng chân thiếp, Luật công thiếp, Thực ngư thiếp, Khổ duẫn thiếp…. Những bức thư pháp này được gọi là những viên ngọc báu. [X. Toàn đường văn Q. 433.; Thái Bình Quảng Kí Q. 208.; Tăng Hoài Tố truyện (Lục vũ); Thích Thị Nghi Niên Lục Q. 4.].