Hóa Thân

《化身》 huà shēn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: nirmāṇa-kāya, Jātaka: keshin: nghĩa là thân biến hóa là một trong 3 thân (Pháp Thân, Ứng Thân Và Hóa Thân) và 4 thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) của Phật. Nó còn được gọi là Ứng Phật, Ứng Thân Phật, Ứng Hóa Thân. Để cứu độ và giáo hóa Chúng Sanh, chư Phật và Bồ Tát đã hóa hiện ra 33 loại thân cũng như trăm ngàn ức loại thân khác nhau; cho nên có tên gọi “Thiên Bách Ức Hóa Thân ().” Như trong Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh (), Phẩm Sám Hối () thứ 6, có đoạn: “Hà danh Thiên Bách Ức Hóa Thân ? Nhược bất tư vạn pháp, tánh bổn Như Không, nhất niệm tư lường, danh vi biến hóa; tư lường ác sự, hóa vi Địa Ngục, tư lường thiện sự, hóa vi Thiên Đường, độc hại, hóa vi long xà, từ bi, hóa vi Bồ Tát, trí tuệ, hóa vi Thượng Giới, Ngu Si, hóa vi hạ phương, tự tánh biến hóa thậm đa, mê nhân bất năng tỉnh giác, Niệm Niệm khởi ác, thường hành Ác Đạo, hồi nhất niệm thiện, trí tuệ tức sanh, thử Danh Tự Tánh Hóa Thân Phật (, thế nào là Trăm Ngàn Ức Hóa Thân ? Nếu không tư duy vạn pháp, tánh vốn là không, một niệm tư lường, gọi là biến hóa; suy nghĩ việc ác, hóa thành Địa Ngục; suy nghĩ việc thiện, hóa thành Thiên Đường; độc hại thì hóa làm rồng rắn; từ bi thì hóa làm Bồ Tát; trí tuệ thì hóa thành cõi trên, Ngu Si thì hóa thành cõi dưới; tự tánh biến hóa rất nhiều, người mê chẳng thể tỉnh thức, mỗi niệm khởi ác, thường Hành Đường ác, trở về niệm lành, trí tuệ liền sanh; đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật).”