Hộ Thân Phù

《護身符》 hù shēn fú

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Hộ phù, Thần phù, Linh phù, Bí phù. Bùa hộ thân. Tức những lá bùa trong đó có vẽ Hình Tượng hoặc viết Chủng Tử, Chân Ngôn của Phật, Bồ Tát, Chư Thiên, quỉ thần, v.v... đeo trong mình hoặc nuốt vào bụng để mong được chư tôn gia trì Hộ Niệm. Có nhiều loại bùa hộ thân và tùy theo sự mong cầu mà Tác Dụng của chúng cũng khác, như: Trừ ách nạn, trừ nạn nước, nạn lửa, sinh nở được bình an, v.v... Trong các kinh và nghi quĩ Mật giáo cũng nói rất nhiều về Hộ Thân Phù. Cứ theo Tây tạng tân chí, thì dân chúng Tây tạng đều đeo bùa hộ thân. Chẳng hạn, họ dùng những sợi chỉ buộc một trang kinh lại để vào chiếc hộp nhỏ bằng kim loại rồi đeo trong người, hoặc dùng tranh vẽ Lữ nhân dĩ mã và Kim Cương hệ khuyển làm hộ phù để trừ nạn mưa bão và chó dữ. Ngoài ra, Nhật bản vào Thời Đại Bình An, phong tục đeo bùa hộ thân cũng thịnh hành, chẳng hạn như Ngưu Vương Bảo Ấn cũng là một loại Hộ Thân Phù. [X. kinh Uế tích Kim Cương cấm bách biến pháp; kinh Quán đính Q. 1.].