Hám Sơn Đức Thanh

《憨山德清》 hān shān dé qīng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kanzan Tokusei, 1546-1623: tự là Trừng Ấn (), hiệu Hám Sơn (), xuất thân Kim Tiêu (), Kim Lăng (, Nam Kinh), họ Thái (). Năm 13 tuổi, ông theo học với Vĩnh Ninh ()Báo Ân Tự () vùng Kim Lăng. Đến năm 19 tuổi, ông Xuất Gia và thọ Cụ Túc Giới, rồi Tham Học Thiền với Vân Cốc Pháp Hội ()Thê Hà Tự (), kế đến tham vấn Pháp Quang () ở Phục Ngưu Sơn (), đạt được Huyền Chỉ sâu xa. Sau đó, ông chọn Ngũ Đài Sơn () làm nơi tĩnh tu cho mình. Vào năm thứ 9 (1581) niên hiệu Vạn Lịch (), ông thiết lập đại hội trên Ngũ Đài Sơn, chiêu tập 500 vị Đại Đức tăng. Đến năm thứ 14 cùng niên hiệu trên, nhân dịp Thái Hậu quy y, bà cho sáng lập Hải Ấn Tự () ở Lao Sơn () và ban tặng Đại Tạng Kinh; thế nhưng khi mắc tội với vua Thần Tông, ông cũng bị tống giam vào ngục thất ở Lôi Châu (, Tỉnh Quảng Đông). Vào năm thứ 24, ông đến trú ở Tào Khê (), phục hưng các ngôi Thiền Đường nơi đây, rồi truyền giới, giảng kinh và chế ra quy cũ Thiền Môn. Đến năm thứ 43, ông khai sáng Pháp Vân Thiền Tự () ở Ngũ Nhũ Phong (). Vào năm thứ 2 (1622) niên hiệu Thiên Khải (), ông trở về lại Tào Khê, và năm sau thì Thị Tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 59 Hạ Lạp. Trước tác của ông có rất nhiều như bộ Ngữ Lục () 12 quyển, Mộng Du Toàn Tập () 55 quyển, Quán Lăng Già Kinh(), Hoa Nghiêm Cương Yếu (), Lăng Nghiêm Thông Nghĩa (), Viên Giác Kinh Trực Giải (), Kim Cang Kinh Quyết Nghi (), v.v. Ông chủ xướng Pháp Môn Niệm Phật và Khán Thoại Thiền, cùng với Châu Hoằng (), Chơn Khả (), Trí Húc () được gọi là Tứ Đại Thích Gia (, 4 vị tu sĩ vĩ đại) cuối thời nhà Minh. Ngô Ứng Thật () và Tiền Khiêm Ích () soạn bài minh bia tháp cho ông và trong khoảng niên hiệu Thuận Trị (, 1644-1661) nhà Thanh, ông được ban tặng Thụy Hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư ().