Hà Trạch Thần Hội

《荷澤神會》 hé zé shén huì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kataku Jinne, 684-760: vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ khai sáng Hà Trạch Tông () Trung Quốc, người vùng Tương Dương (, Hồ Bắc), họ Cao (). Lúc nhỏ ông học Ngũ Kinh, Lão Trang, các sử thư, sau theo Xuất Gia với Cảnh Nguyên ở Quốc Xương Tự (), đọc tụng thuộc các Kinh Điển rất dễ dàng. Năm lên 13 tuổi, ông đến tham yết Huệ Năng (). Sau khi Huệ Năng qua đời ông đi Tham Học khắp các nơi. Vào năm thứ 8 (720) niên hiệu Khai Nguyên (), ông vâng chiếu đến trú trì Long Hưng Tự () ở Nam Dương () và cử xướng Thiền pháp rộng rãi tại đây, cho nên người đời thường gọi ông là Nam Dương Hòa Thượng (). Sau khi Lục Tổ qua đời trong vòng 20 năm, giáo pháp của ông bị suy tàn dần dần, cả hai kinh đều tôn sùng Thần Tú () mà thôi. Lần đầu tiên khi đến Lạc Dương (), ông đã có ý muốn chấn hưng Thiền Phong của Lục Tổ, cho nên vào năm thứ 20 (732) niên hiệu Khai Nguyên, ông thiết lập đại hội ở Đại Vân Tự () thuộc Hoạt Đài (), Hà Nam (), cùng luận tranh với Sùng Viễn () ở Sơn Đông (). Kế đến vào năm thứ 4 (745) niên hiệu Thiên Bảo (), ông viết cuốn Hiển Tông Ký (), quy định ra 2 Tông Phái đốn và tiệm của Nam Bắc, lấy Huệ Năng ở phương Nam làm Đốn Tông và Thần Tú ở phía Bắc làm Tiệm Tông; cho nên từ “Nam Đốn Bắc Tiệm ()” vốn phát xuất từ đây. Ông tận lực công kích Pháp Môn của Thần Tú, vì vậy Nam Tông Thiền càng ngày trở nên hưng thạnh, trong khi đó thì Bắc Tông Thiền dần dần suy tàn. Đến năm thứ 12 niên hiệu Thiên Bảo, nhân vụ trình tâu vu khống của vị quan Ngự Sử Lô Dịch (), ông rời khỏi Hà Trạch Tự () vùng Lạc Dương, chuyển đến sống tại các địa phương như Dặc Dương (, Giang Tây), Võ Đương (, Hồ Bắc), v.v. Đến năm sau, ông lại chuyển đến Tương Dương, rồi Bát Nhã Viện () của Khai Nguyên Tự () vùng Kinh Châu (). Khi vụ loạn An Sử () dấy khởi, cả 2 kinh đô đều rơi vào cảnh lầm than, khắp nơi có thiết lập Giới Đàn độ chúng tăng, tập trung tiền của để sung vào quân nhu, cho nên người ta thỉnh ông làm chủ đàn. Sau vụ loạn, vua Túc Tông mời ông vào cung nội cúng dường và cho xây dựng Thiền đường trong khuôn viên Hà Trạch Tự, thỉnh ông đến làm trú trì chùa này, cho nên người đời thường gọi ông là Hà Trạch Đại Sư (). Vào năm đầu (760) niên hiệu Thượng Nguyên (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 93 tuổi. Có thuyết cho là ông mất vào năm đầu (758) niên hiệu Càn Nguyên (). Ông được ban cho Thụy HiệuChơn Tông Đại Sư (). Vào năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (), Hoàng Thái Tử cho triệu tập các vị Thiền Sư, quy định Tông Chỉ của Thiền Môn, suy cử ông là vị tổ thứ 7 của Thiền Tông, sắc phong bia đặt tại Thần Long Tự (). Tông Môn của ông được gọi là Hà Trạch Tông (). Môn hạ ông có rất nhiều đấng anh tài như Vô Danh (), Pháp Như (), v.v.