Giác Phạm Huệ Hồng

《覺範慧洪》 jué fàn huì hóng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kakuban Ekō, 1071-1128: vị tăng của Phái Hoàng Long () thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, họ là Bành (), tự là Giác Phạm (), sau có tên là Đức Hồng () và được gọi là Tịch Âm Tôn Giả (), xuất thân vùng Thoại Châu (, Huyện Cao An, Tỉnh Giang Tây). Năm lên 14 tuổi, ông Xuất Gia, theo học Câu Xá cũng như Duy Thức với các Luật Sư Tam Phong Tĩnh () và Tuyên Bí (). Về sau, ông đi theo tu học với Chơn Tịnh Khắc Văn (). Ông đã từng sống qua ở Thanh Lương Tự () vùng Kim Lăng (, Tỉnh Giang Tô), nhưng trong khoảng niên hiệu Sùng Ninh (, 1102-1106) đời vua Huy Tông (), do lời sàm ngôn tố cáo có vị tăng làm khác với chủ trương của triều đình nên ông đã bị trước sau 4 lần giam vào ngục thất. Đương thời, ông được vị Cư Sĩ Tể Tướng Trương Thương Anh () và Thái Úy Quách Thiên Dân () cứu thoát. Sau khi trở về, ông đến trú tại Minh Bạch Am () vùng Tương Tây (西, Tỉnh Hồ Nam) và chuyên tâm tập trung vào việc trước tác. Vào tháng 5 năm thứ 2 (1128) niên hiệu Kiến Viêm (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời và 39 Hạ Lạp. Thể theo lời tâu của Quách Thiên Dân, ông được cho Thụy Hiệu là Bảo Giác Viên Minh (). Một số trước tác của ông còn lưu lại hậu thế như Lâm Nhàn Lục () 2 quyển, Lâm Nhàn Lục Hậu Lục (), Thiền Lâm Tăng BảoTruyện () 30 quyển, Cao Tăng Truyện () 12 quyển, Lãnh Trai Dạ Thoại () 10 quyển, Thạch Môn Văn Tự Thiền () 30 quyển, v.v.

Giác Phạm Huệ Hồng. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/giac-pham-hue-hong. Truy cập 06/04/2026.