Duy Thức Nhị Thập Luận

《唯識二十論》 wéi shí èr shí lùn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm : Viôzatikà-vijĩapti-màtratàsiddhi#. Có 1 quyển do Bồ Tát Thế Thân soạn, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Nhị thập Duy Thức Luận, Tồi phá tà sơn luận, thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này dẫn dụng câu Tam Giới Duy Tâm (ba cõi chỉ do tâm) trong kinh Thập Địa để luận chứng cảnh ở ngoài do thức hiển hiện, nói rõ nghĩa chỉ do thức không có cảnh để bác bỏ sự Thiên Chấp của Tiểu ThừaNgoại Đạo. Đây là một trong 11 bộ luận của Tông Pháp tướng, một trong 10 chi luận của Du Già.Nội dung sách này gồm có 21 bài tụng thể năm chữ, dựa vào đó mà giải thích ý nghĩa rõ ràng. Trước hết, nói về yếu chỉ Tam Giới Duy Thức, kế đó, giải thích bốn vấn nạn do Tiểu ThừaNgoại Đạo đặt ra để thành lập lí Vạn pháp Duy Thức. Bài tụng cuối cùng nói về Tông Nghĩa, dựa theo con số kệ tụng mà lấy tên là Nhị thập luận. Ngoài bản dịch của ngài Huyền Trang, luận này còn có hai bản dịch khác nữa, đó là :
1. Đại Thừa Duy Thức Luận 1 quyển, ngài Chân Đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều.
2. Đại Thừa Lăng Già Kinh Duy Thức Luận 1 quyển (cũng gọi Phá sắc tâm luận), do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào thời Bắc Ngụy. Trong ba bản dịch này, bản của ngài Bồ Đề Lưu Chi văn xuôi nhiều, kệ tụng ít, tất cả có 23 bài tụng; bản của ngài Chân Đế văn xuôi ít, kệ tụng nhiều, có 24 bài tụng; bản của ngài Huyền Trang văn xuôi, văn kệ bằng nhau, có 21 bài tụng. Luận này có rất nhiều sách chú thích. Ở Ấn Độ, bắt đầu là luận sư Cù Ba - Đệ Tử của Bồ Tát Thế Thân - có hơn 10 nhà chú thích, trong đó, Thành Duy Thức Bảo Sinh Luận 5 quyển của ngài Hộ Pháp là quan trọng hơn cả. Tại Trung Quốc thì có: Nhị thập Duy Thức Luận thuật kí 2 quyển do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường; Duy Thức Nhị Thập Luận sớ 2 quyển do ngài Viên trắc người Tân La soạn. [X. Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng Q. 1. phần đầu; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 9.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 6. đến Q. 9.].