Dương Chi

《楊枝》 yáng zhī

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: danta-kāṣṭha, Pāli: danta-kaṭṭha danta-poṇa: âm dịch là Đạn Đa Gia Sắt Sá (), Thiền Đa Ni Sắt Sáp (); còn gọi là xỉ mộc (), tức là mảnh cây nhỏ dùng để mài răng cạo lưỡi cho sạch; là một trong 18 vật cần dùng cho vị Tỳ Kheo do Phật chế ra. Như trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 1, phần Bát Triêu Tước Xỉ Mộc (), giải thích rõ rằng: “Mỗi nhật đán triêu tu tước xỉ mộc, giai xỉ, Quát Thiệt, vụ linh Như Pháp, quán thấu thanh tịnh, phương hành Kính Lễ (, mỗi ngày vào sáng sớm nên nhai cây xỉa răng, chùi răng, cạo lưỡi, làm việc Như Pháp, rửa tay súc miệng sạch sẽ, mới hành Kính Lễ).” Tại Ấn Độ, các nước phía Tây, khi mời người Thế Tục, trước tặng cho cây xỉa răng và nước hương, v.v., để chúc cho người đó được sức khỏe, thể hiện ý thỉnh cầu. Ngay như cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát cũng dùng nhành Dương Chi và nước trong sạch, được gọi là Pháp Thỉnh Quán Âm () hay Pháp Dương Chi Tịnh Thủy (). Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Thỉnh Quan Thế Âm Đại Thế Chí Bồ Tát Chú Pháp (), có câu: “Thỉnh Thập Phương Thất Phật Quan Âm Đại Thế Chí Bồ Tát đẳng, ngã kim dĩ cụ Dương Chi tịnh thủy, duy nguyện đại từ ai mẫn nhiếp thọ (, thỉnh mười phương bảy vị Phật, Quan Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát, v.v., con nay đã đầy đủ nhành dương nước sạch, xin nguyện từ bi thương xót nhiếp thọ).” Pháp Uyển Châu Lâm quyển 61 còn cho biết rằng Phật Đồ Trừng (, 232-348), Cao Tăng Thiên Trúc, là người có đức độ lớn, Thạch Lặc (, 274-333)—vua nhà Hậu Triệu, nghe tiếng bèn cho mời vào cung nội. Nhân con nhà vua bị bệnh chết, Phật Đồ Trừng lấy nhà dương thấm nước rưới lên, người ấy sống lại. Cho nên, người ta thường dùng nhành dương liễu và nước trong sạch để làm thanh tịnh các Đàn Tràng cầu nguyện cầu an, cầu siêu, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, v.v. Trong Từ Bi Dược Sư Bảo Sám (, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1484) quyển 1 có bài tán Dương Chi Tịnh Thủy như sau: “Dương Chi tịnh thủy, biến sái tam thiên, Tánh Không Bát Đức lợi Nhân Thiên, phước tuệ quảng tăng diên, Diệt Tội trừ khiên, hỏa diệm hóa Hồng Liên (, nhành dương nước tịnh, rưới khắp ba ngàn, Tánh Không Tám Đức lợi người trời, phước tuệ rộng tăng thêm, Diệt Tội oan khiên, lửa rực hóa hồng sen).” Về loại cây xỉa răng, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có nêu ra 4 loại có thể dùng làm cây xỉa răng là Bạch Dương (), Thanh Dương (), Xích Dương () và Hoàng Dương (). Hơn nữa, không chỉ riêng loại Dương Liễu mới có thể làm cây xỉa răng, mà tất cả các loại cây đều có thể dùng được. Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu còn giới thiệu bài kệ Thủ Dương Chi (, Cầm Nhành Dương Liễu [Tăm Xỉa Răng]) là: “Thủ chấp Dương Chi, đương nguyện Chúng Sanh, giai đắc Diệu Pháp, Cứu Cánh thanh tịnh (, tay cầm nhành dương, nguyện cho Chúng Sanh, đều được pháp mầu, rốt ráo thanh tịnh)”; và bài Tước Dương Chi (, Xỉa Răng): “Tước Dương Chi thời, đương nguyện Chúng Sanh, kỳ tâm điều tịnh, phệ chư Phiền Não (調, khi đang xỉa răng, nguyện cho Chúng Sanh, tâm được trong sạch, hết các Phiền Não).” Tỳ Ni Chỉ Trì Hội Tập (, Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 709) quyển 16 còn cho biết một số nguyên tắc khi xỉa răng như: “Bất đắc tại Phật tháp hạ tước Dương Chi (, không được xỉa răng dưới tháp Phật)”, “bất đắc hướng Phật tháp tước Dương Chi (, không được hướng về tháp Phật mà xỉa răng)”, “bất đắc Phật tháp tứ biên tước Dương Chi (, không được xỉa răng ở bốn phía của tháp Phật)”, v.v.