Đường Chiêu Đề Tự

《唐招提寺》 táng zhāo tí sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Tōshōdai-ji: ngôi Tổng Bản Sơn trung tâm của Luật Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Gojō-chō (), Nara-shi (), Nara-ken (), một trong 7 ngôi chùa lớn của vùng Nam Đô. Tượng thờ chính của chùa là tượng ngồi Lô Xá Na Phật (, Thời Đại Nại Lương) cao 6 trượng. Là ngôi tự viện có liên quan mật thiết với vị Đường tăng Giám Chơn (, Ganjin), về sự tình xây dựng chùa được miêu tả rất rõ trong Đường Đại Hòa Thượng Đông Chinh Truyện () do Đạm Hải Tam Thuyền (, Oumi-no-Mifune) soạn thuật vào năm 779. Vượt qua biết bao gian khổ để đến được triều đình Nhật, vào năm 754 (Thiên Bình Thắng Bảo [] 6), Giám Chơn đã thiết lập Giới Đàn trước tượng Đại Phật của Đông Đại Tự (, Tōdai-ji) để truyền thọ Giới Pháp cho Thiên Hoàng, Hoàng Hậu và hơn 440 người trong cung nội. Từ đó về sau, ông xác lập chế độ thọ giới. Sau đó, ông nhường lại Đường Thiền Viện ()Đông Đại Tự cho Đệ Tử Pháp Tấn (, Hōshin), rồi xây dựng một ngôi Biệt Viện mới tại khu đất nhà ở cũ của cố Thân Vương Tân Điền Bộ (, Nitabe)—khu đất do triều đình ban tặng vào năm 759 (Thiên Bình Bảo Tự [] 3), và chuyển đến trú ở đây với tên do ông đặt là Đường Chiêu Đề Tự. Đây chính là Duyên Khởi của chùa này. Về quy mô của ngôi Già Lam, người tạo lập, v.v., có ghi rõ trong Chiêu Đề Tự Kiến Lập Duyên Khởi (, năm 835). Quần thể đại quy mô của ngôi Già Lam này có Kim Đường () nối liền với Hành Lang chạy vòng quanh, Giảng Đường (), Lầu Kinh (), Lầu Chuông (), Tăng Phòng (), v.v., là những kiến trúc được dời từ Đông Triều Tập Điện của Bình Thành Kinh (). Sau khi kinh đô được dời về Trường Cương (), chùa vẫn tiếp tục xây dựng thêm. Dưới thời Bình An, do vì kinh đô dời đi nơi khác nên chùa phải chịu số phận suy vong cùng với những ngôi chùa khác của vùng Nam Đô. Trong phần Thật Phạm Luật Sư Truyện () của bản Chiêu Đề Thiên Tuế Truyện Ký () được hình thành vào năm 1701 (Nguyên Lộc [祿] 14), có ghi lại lần hoang phế của chùa dưới thời đại này. Đến Thời Đại Liêm Thương, chùa bắt đầu tái hưng nhờ những hoạt động phục hưng giáo học vùng Nam Đô của Trinh Khánh (, Jōkei), Duệ Tôn (, Eison), Giác Thạnh (, Kakujō), v.v. Vào năm 1202 (Kiến Nhân [] 2), Trinh Khánh bắt đầu tu sửa Đông Thất (), thiết lập Đạo Tràng Niệm Phật; đến năm 1240 (Nhân Trị [] nguyên niên) thì xây dựng Lầu Kinh, v.v. Năm 1244 (Khoan Nguyên [] 2), Giác Thạnh—người được kính ngưỡng như là vị sơ tổ thời Trung Hưng của chùa—đến làm trú trì. Ông tiến hành phục hưng về mặt giáo học; và vị tổ thứ 2 là Chứng Huyền (, Shōgen) cũng tận lực góp phần làm cho chùa xương thạnh. Bức tượng Thích Ca theo dạng thức của Thanh Lương Tự (, Seiryō-ji) được tôn trí tại Lễ Đường (, năm 1202), tranh vẽ Đông Chinh Truyện (), v.v., nói lên một cách Chân Thật thời kỳ phục hưng này. Lịch sử của chùa từ thời Nam Bắc Triều trở đi thì không rõ lắm, nhưng giống như các ngôi tự viện khác, chùa cũng bị suy tàn mãi cho đến thời Cận Đại. Đến năm 1596 (Trường Khánh [] nguyên niên), do vì động đất, toàn bộ ngôi Già Lam bị hư nát. Sau đó, nhờ Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (, Tokugawa Tsunayoshi) quy y với Long Quang (, Ryūkō)—vị trú trì Hộ Trì Viện () của chùa, Tướng Quân Phát Nguyện tu bổ lại toàn bộ Già Lam để Hồi Hướng Công Đức cho thân mẫu ông. Từ khi chùa thành lập chưa có trận hỏa tai nào xảy ra cho đến thời Cận Đại; nhưng vào năm 1802 (Hưởng Hòa [] nguyên niên), ngôi tháp được dựng vào năm 810 bị sét đánh làm cháy rụi. Thêm vào đó, vào năm 1833 (Thiên Bảo [] 4), Tây Thất (西), Khai Sơn Đường () và năm 1848 (năm đầu niên hiệu Gia Vĩnh []) thì Giới Đàn Đường () bị cháy thành tro bụi. Tuy nhiên, cũng may mắn thay, trung tâm Già Lam thì không bị ảnh hưởng hỏa tai lớn, các kiến trúc quý giá như Kim Đường, Giảng Đường, Kho Kinh, Kho Báu, v.v., vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay. Bảo vật của chùa hiện có một quần thể tượng điêu khắc giá trị gồm mấy mươi pho như tượng ngồi Lô Xá Na Phật, tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm (Thời Đại Nại Lương), tượng đứng Dược Sư Như Lai (đầu thời Bình An), tượng ngồi Giám Chơn Hòa Thượng (Thời Đại Nại Lương), v.v. Ngoài ra, còn có rất nhiều bảo vật khác như bình đựng Xá Lợi do Giám Chơn đem sang, tranh vẽ, Kinh Điển, v.v. Về tên gọi Đường Chiêu Đề Tự (), Đường () ở đây có nghĩa nói đến vị Đường Tăng Giám Chơn sang truyền Luật Tông vào Nhật. Còn Chiêu Đề () là âm dịch của tiếng Pāli hay Sanskrit cātuddisa, nghĩa là tứ phương, bốn phương. Vậy ngôi Đường Chiêu Đề Tự là ngôi chùa của vị Đường Tăng Giám Chơn dành cho người của bốn phương đến tu tập. Có lẽ đây cũng là chân ý của Hòa Thượng Giám Chơn.