Địa Luận Tông

《地論宗》 dì lùn zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Jiron-shū: tên gọi của học phái lấy bộ Thập Địa Kinh Luận () của Thế Thân hay Thiên Thân (Vasubandhu, hay ) làm đối tượng nghiên cứu. Bộ luận này do Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci, ) dịch vào năm 511. Đây là một trong 13 Tông Phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở bộ Thập Địa Kinh Luận do Lặc Na Ma Đề (Ratnamati, ), Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci, )Phật Đà Phiến Đa (Buddhaśānta, ) cọng dịch, nhưng do vì kiến giải của Bồ Đề Lưu Chi và Lặc Na Ma Đề có phần khác nhau nên tông này chia thành 2 phái. Sau khi phân thành 2 ngã, hệ thống của Đạo Sủng (), Đệ Tử của Bồ Đề Lưu Chi, phát triển ở địa phương phía Bắc nên gọi là Bắc Đạo Phái. Còn hệ thống của Huệ Quang (), Đệ Tử của Lặc Na Ma Đề, thì phát triển ở vùng phía Nam nên được gọi là Nam Đạo Phái. Trong Bắc Đạo Phái có môn hạ của Đạo Sủng là Tăng Hưu (), Pháp Kế (), v.v.; còn trong Nam Đạo Phái thì có môn hạ của Huệ QuangPháp Thượng (), Tăng Phạm (), Đạo Bằng (), Huệ Thuận (), v.v., với rất nhiều nhân tài xuất chúng. Giáo học của Nam Đạo Phái được thành lập do PhápThượng và Đệ Tử ông là Huệ Viễn (). Tông này lấy thuyết Như Lai Tạng Duyên Khởi () trong Lăng Già Kinh ()Đại Thừa Khởi Tín Luận () làm tiêu chỉ. Riêng Bắc Đạo Phái thì lấy A Lại Da Thức như là Chơn Vọng Hòa Hợp Thức làm ra thuyết Thức Thứ Chín; trong lúc đó Nam Đạo Phái thì lấy A Lại Da Thức như là Tịnh Thức mà đưa ra thuyết Thức Thứ Tám. Vào đầu thời nhà Tùy, Bắc Đạo Phái đã phát triển mạnh ở phương Bắc và hợp nhất với Nhiếp Luận Tông () trên chủ thuyết Thức Thứ Chín nhưng sau đó tiêu diệt luôn. Trường hợp của Nam Đạo Phái cũng chịu chung số phận như Bắc Đạo Phái.