Đan Tam Phức Tam Cụ Túc Nhất
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Thất Chủng Lập Đề. Bảy cách đặt tên kinh do ngài Trí Khải thuộc tông Thiên thai dựa vào ba hạng mục lớn: Nhân, Pháp, Thí (Thí Dụ) mà đặt ra để Phân Biệt ý chỉ của tên kinh. Bảy cách ấy là:
1. Đơn nhân lập đề: Chỉ dùng người để đặt tên kinh, như kinh Phật Thuyết A di đà, thì trong đó Phật (tức Phật Thích Ca) và A di đà (tức Phật A di đà) đều là người. Phật Thích Ca là người năng thuyết, còn Phật A di đà là sở thuyết.
2. Đơn pháp lập đề: Chỉ dùng pháp để đặt tên kinh, như kinh Niết Bàn. Trong đó Niết Bàn là pháp được dùng làm tên kinh.
3. Đơn thí lập đề: Chỉ dùng Thí Dụ để đặt tên kinh, như kinh Phạm võng. Phạm võng là tấm lưới báu của Phạm Thiên, có hàng trăm nghìn mắt lưới lấp lánh, lớp lớp giao triệt, trùng trùng vô tận mà không ngăn ngại lẫn nhau, hệt như giáo pháp Đại Thừa trong kinh Phạm võng, mỗi mỗi giáo pháp cũng trùng trùng vô tận, cho nên được dùng làm Thí Dụ.
4. Nhân pháp lập đề: Dùng cả người và pháp để đặt tên kinh, như kinh Văn thù vấn Bát Nhã. Trong đó, Văn thù là người, Bát Nhã là pháp.
5. Pháp Thí lập đề: Dùng pháp và Thí Dụ để đặt tên kinh, như kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trong đó. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là Thí Dụ.
6. Nhân thí lập đề: Dùng người và Thí Dụ để đặt tên kinh, như kinh Như Lai Sư Tử Hống. Trong đó, Như Lai là người, Sư Tử Hống là Thí Dụ.
7. Cụ Túc lập đề: Dùng đủ cả người, pháp và Thí Dụ để đặt tên kinh. Như kinh Đại Phương Quảng Phật hoa nghiêm, trong đó, Đại Phương Quảng là pháp, Phật là người, Hoa nghiêm là Thí Dụ. Trong 7 cách đặt tên kinh nói trên, ba cách đầu Đơn nhân, Đơn pháp, Đơn thí, gọi chung là Đơn tam; ba cách kế tiếp Nhân pháp, Pháp Thí, Nhân thí, gọi chung là Phức tam; một cách sau cùng đầy đủ cả Nhân pháp thì gọi là Cụ Túc nhất. Ngoài ra, các ngài Cát Tạng, Tuệ viễn, Trừng quán v.v... cũng đều có ý kiến về cách đặt tên kinh. Chẳng hạn như trong Pháp hoa du ý của mình, ngài Cát Tạng đã nêu ra chín cách: Đãn nhân, Đãn pháp, Đãn xứ, Đãn thời, Đãn sự, Đãn dụ, Pháp dụ song cử, Nhân pháp câu đề và Tam nghĩa lập danh. [X. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (Trí Khải); Vô Lượng Thọ Kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Duy Ma nghĩa kí Q. 1. phần đầu; Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q. 16.; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng; Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q. 28.].
1. Đơn nhân lập đề: Chỉ dùng người để đặt tên kinh, như kinh Phật Thuyết A di đà, thì trong đó Phật (tức Phật Thích Ca) và A di đà (tức Phật A di đà) đều là người. Phật Thích Ca là người năng thuyết, còn Phật A di đà là sở thuyết.
2. Đơn pháp lập đề: Chỉ dùng pháp để đặt tên kinh, như kinh Niết Bàn. Trong đó Niết Bàn là pháp được dùng làm tên kinh.
3. Đơn thí lập đề: Chỉ dùng Thí Dụ để đặt tên kinh, như kinh Phạm võng. Phạm võng là tấm lưới báu của Phạm Thiên, có hàng trăm nghìn mắt lưới lấp lánh, lớp lớp giao triệt, trùng trùng vô tận mà không ngăn ngại lẫn nhau, hệt như giáo pháp Đại Thừa trong kinh Phạm võng, mỗi mỗi giáo pháp cũng trùng trùng vô tận, cho nên được dùng làm Thí Dụ.
4. Nhân pháp lập đề: Dùng cả người và pháp để đặt tên kinh, như kinh Văn thù vấn Bát Nhã. Trong đó, Văn thù là người, Bát Nhã là pháp.
5. Pháp Thí lập đề: Dùng pháp và Thí Dụ để đặt tên kinh, như kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trong đó. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là Thí Dụ.
6. Nhân thí lập đề: Dùng người và Thí Dụ để đặt tên kinh, như kinh Như Lai Sư Tử Hống. Trong đó, Như Lai là người, Sư Tử Hống là Thí Dụ.
7. Cụ Túc lập đề: Dùng đủ cả người, pháp và Thí Dụ để đặt tên kinh. Như kinh Đại Phương Quảng Phật hoa nghiêm, trong đó, Đại Phương Quảng là pháp, Phật là người, Hoa nghiêm là Thí Dụ. Trong 7 cách đặt tên kinh nói trên, ba cách đầu Đơn nhân, Đơn pháp, Đơn thí, gọi chung là Đơn tam; ba cách kế tiếp Nhân pháp, Pháp Thí, Nhân thí, gọi chung là Phức tam; một cách sau cùng đầy đủ cả Nhân pháp thì gọi là Cụ Túc nhất. Ngoài ra, các ngài Cát Tạng, Tuệ viễn, Trừng quán v.v... cũng đều có ý kiến về cách đặt tên kinh. Chẳng hạn như trong Pháp hoa du ý của mình, ngài Cát Tạng đã nêu ra chín cách: Đãn nhân, Đãn pháp, Đãn xứ, Đãn thời, Đãn sự, Đãn dụ, Pháp dụ song cử, Nhân pháp câu đề và Tam nghĩa lập danh. [X. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (Trí Khải); Vô Lượng Thọ Kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Duy Ma nghĩa kí Q. 1. phần đầu; Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q. 16.; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng; Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q. 28.].